Dòng Mực Cũ – Chương 1

0

ải Ninh là tên gọi một ngôi làng điển hình ở miền Bắc với cánh đồng lúa mênh mông, với lũy tre xanh bao bọc mấy trăm nóc nhà, phần lớn là mái tranh vách đất. Cuối cánh đồng làng có con đê cao ngăn nước sông cái, la mối đe dọa hàng năm mỗi khi mùa mưa đến. Cuộc sống im lìm của mấy ngàn cư dân cứ êm ả ngày này qua ngày khác, ngàn đời chẳng biết bao giờ thay đổi.

Bấy giờ là giữa thập niên 20, Khải Định hoàng đế vừa qua đời ở tuổi 41. Vua chết đi không để lại chút tiếc thương nào trong lòng muôn dân, bởi sinh thời vua là bù nhìn tiêu biểu của thực dân Pháo, đi ngược lai bao nhiêu công trình ái quốc của các bậc tiên vương họ Nguyễn. Triều đình cũng biết lòng dân chê trách vua, cho nên vua vừa nằm xuống, các quan phụ chính đại thần như Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài vội vàng ra bản thông tri, có đoạn mở đầu như sau:
“Hoàng đế Khải Định từ khi đi Tây về thụ bệnh, bệnh tình càng ngày càng nặng, 5 giờ sáng ngày 21 tháng 9 ta, tức Novembre, ngài đã thăng hà.
Nay tiên đế đã khuất núi, chúng ta cũng không nên nghi luận về sự nghiệp ngài trong mười năm trị vì thế nào. Sự nghiệp ấy hay hay dở, sẽ thuộc về thanh sử đời sau phán đoán. “
Lời kêu gọi của triều đình càng làm cho thần dân bàn tán nhiều hơn. Hoàng tử Vĩnh Thụy vốn người ngoại tộc, được Khải Định nhận làm con nuôi, lên nối ngôi, lấy hiệu là Bảo Đại, mới 13 tuổi hiện còn đang du hoc bên mẫu quốc.
Bước sang đầu thế kỳ 20, những phong trào đấu tranh dành độc lập không còn lấy triều đình làm điểm tựa nữa, bởi tiếng gọi Cần Vương năm xưa thời Hàm Nghi, Duy Tân đã trở thành dĩ vảng. Nhiệm vụ đuổi Thực dân bây giờ là quần chúng tự phát, đặc biệt là những người theo tân học, ngấm ngầm bùng lên khắp nơi như trăm hoa đua nở dưới nhiều hình thức khác nhau, ghi dấu một thời lẫm liệt pha lẫn với bi thương.
Trong làng Hải Ninh, có gia đình ông Vũ Lương, thuộc hàng trung nông, bốn người con, hai trai hai gái đều hiền lành chăm chỉ. Ông Lương là thầy đồ lỡ vận, vốn liếng chữ Hán thâm hậu nhưng gặp lúc buổi Nho học xế bóng, không đắc dụng trong xã hội nữa. Ông mở lớp dạy học tại nhà, môn sinh lác đác trên dưới chục đứa. Những gia đình tương đối có chút tiền thì gửi con đến, một là để ông trông nom cho chúng khỏi lêu lổng ngoài đường, hai là nhắc nhở chúng về lễ nghĩa, hy vọng mai sau khi lớn lên chúng sẽ hết lòng phụng dưỡng cha mẹ. Cái lớp học vốn lèo tèo ấy, cứ mỗi ngày một vắng đi dần. Cuối cùng chỉ còn dăm ba đứa, ông đành giải tán, chuyển sang hốt thuốc bắc, nhưng cũng không khá, phần vì ít kinh nghiệm, phần vì chính bản thân ông không tha thiết với nghề này. Lớp người như ông nặng tính bảo thủ, luôn luôn già trước tuổi, thường mất nhiều thì giờ trầm ngâm suy nghĩ, bởi quá luyến tiếc cái thời vàng son của lối học từ chương thuở trước. Chữ Tây, chữ Quốc ngữ ông đều không coi là những phương tiện chính thống để chuyên chở đạo l‎y thánh hiền. Ông cũng học cho biết với thiên hạ, nhưng lòng không say mê chút nào. Chỉ vì muốn giữ lấy nếp nhà mà ông phải gửi Tân, người con trai đầu lòng của ông xuống Hà nội học, chứ trong thâm sâu ông chỉ muốn con ở nhà, trau dồi Tứ Thư Ngũ Kinh là đủ rồi. Tân năm nay 20 tuổi. Ba đứa em kế tiếp là Hậu, Duyên và cậu Út Hoàn, cứ ba năm hai đứa, thành ra tuổi đềi xấp xỉ nhau. Là nhà nho cho nên ông Lương nghiêm khắc lắm, hở một tí là đánh mắng thẳng tay, nhất là đối với hai cô gái. Trai làng có ai chọc ghẹo ngoài ngõ, ông không cần biết phải trái, lôi con về trách phạt trước. Gánh hát chèo lâu lâu mới về diễn ở đình làng, hai cô muốn raa xem phải có bà mẹ hoặc anh Tân đi kèm ông mới cho phép. Ông hãnh diện về gia phong, không cần đếm xỉa đến những khao khát của các con ở tuổi đang lớn và nhất là những thay đổi bật gốc của xã hội Việt Nam vào cuối mùa thực dân.
Tuy vậy, những khi các con xúm nhau nhặt gạo ngoài hiên, cũng có lúc ông Lương cao hứng ngồi kể chưyện đời xưa cho các con nghe. Phần lớn là những tấm gương trung hiếu tiết nghĩa rút ra từ Đông châu liệt quốc, Thủy hử hay Tam quốc chí. Ông kể sơ lượt thôi, nhưng ông bình luận rất kỹ, nhắc đi nhắc lại cái đạo tam tòng tứ đức để các con thấm sâu vào trí óc. Chẳng hạn như chiều nay, sau khi dứt một đoạn chuyện cổ, ông Lương nhìn hai cô gái đang lớn nhanh, thở dài bảo vợ:
– Mới hôm nào chập chững biết đi, bâu giờ đứa nào đứa nấy xấp xỉ hai mươi cả rồi. Bà xem có ai xin thì cho người ta đi. Tống được đứa nào hay đứa nấy!
Câu ấy, ông đã lập đi lập lại nhiều lần ngay trước mặt các con. Hậu và Duyên thấy tủi thân đến độ phẩn uất, nhưng thời buổi lễ giáo khắc khe, không cô nào dám có phản ứng dù là cha mẹ ăn nói khó nghe. Bà Lương bùi ngùi bảo chồng:
– Năm ngoái, bà Cần đánh tiếng xin cái Hậu cho thằng Tuất, con giai bà ấy. Tôi bảo mời bà ấy lại nhà chơi! Đám ấy thì được, con nhà tử tế, không có tai tiếng gì. Tôi có ‎ chờ rồi mà chả thấy bà ấy nói gì nữa! Không khéo có đứa nào dèm pha cái gì đấy, cho nên bà ấy ngơ đi. Tôi vẫn gặp ngoài chợ, nhưng chả lẽ minh lại nhắc!
Ông Lương im lặng, chắp tay sau đít bỏ vào nhà ngồi uống trà. Hậu cũng biết chuyện này, biết Tuất có dạo để ‎ đến mình. Cô muốn lấy chồng phức cho xong để bố mẹ khỏi sốt rột và nhất là vì cô có ra riêng trước, thì mới đến lượt cô em, theo truyền thống cả làng này. Ở Hải Ninh, những cô gái mà gia cảnh tầm thường và nhan sắc chỉ ở mức trung bình như chị em Hậu, nếu không may mắn thì có khi phải đi vào con đường làm lẽ những ông già nhà giàu. Cho nên tuy chẳng nói ra, nhưng hai cô đều âm thầm lo sợ cho tương lai.
Buổi tối hôm ấy trời sáng trăng, hai chị em xay gạo ở đầu nhà, đang nói chuyện phím thì bà Lương bưng rổ khoai luột ra cho các con. Nhận thấy mẹ vui, Hậu mới bạo dạn hỏi
– Mẹ, đừng nhắc đến chuyện nhà bà Cần nữa, mẹ ạ! Anh Tuất sắp cưới vợ rồi!
Bà Lương trợn mắt hỏi lại:
– Thằng Tuất sắp lấy vợ? Lấy ai?
Hậu đáp:
– Con nghe bảo cưới cái cô nào ở bên kia sông, chứ không phải người làng mình!
Bà Lương đang cầm củ khoai bốc dở, ném bẹt vào rổ và bực bội nói:
– Cái bà Cần này cũng láo thật! Chỗ người lớn với nhau, lại quen biết bao nhiêu năm nay mà cứ y như đồ trẻ con! Thế mà cũng dám mở mồm nói chuyện với tao! Để phiên chợ này tao gặp, tao sẽ cho một trận!
Hậu cười buồn:
– Ơ hay! Người ta không lấy con thì thôi chứ sao mẹ lại định mắng người ta! Vợ chồng là duyên số, mẹ chả bảo, mãi như thế hay sao?
Bà Lương chưa kịp nói thì Duyên chép miệng chen vào:
– Anh Tuất là con một của ông bà Cần. Chị Hậu không lấy anh ấy là may đấy mẹ ạ! Báu gì mà phải tiếc! Đời nào thì lấy chồng con một cũng khó chịu lắm! Chị Hậu về làm dâu nhà bà Cần thì đến chết dần chết mòn mất thôi! Mẹ có gặp bà ấy thì lờ đi, đừng thèm nhắc đến nữa.
Hậu nhìn Duyên thầm cám ơn lời an ủi tế nhị của em gái. Nhưng bà Lương cãi:
– Tao không tiếc! Nhưng tao tức, là vì bà Cần là chỗ đi lại với nhà mình bao nhiêu năm Đã nói thì phải giữ lời!
l
Dứt câu, bà vùng vằng bỏ lên nhà. Hai chị em nhìn nhau không nói gì. Tiếng cối xay vù vù chạy đều đặn theo nhịp tay đẩy của Hậu. Trăng trung tuần sáng vằng vặc rọi qua cành khế thưa lá, in bóng Hậu trên vách bếp. Trời im gió. Sức nóng hừng hực ban ngày đang tan dần trong không gian tĩnh mịch của đêm vắng. Ngoài đường cái, có tiếng bước chân dồn dập, tiếng nói chuyện nho nhỏ của tuần phiên đi kiểm tra quanh làng, kéo theo tiếng chó sủa vang một hồi rồi tất cả lại chìm trong yên lặng. Duyên ngồi ghé trên bao thóc dựng sát cây cột tre chống mái hiên, vừa bốc khoai vừa bảo:
– Chị đã mỏi tay chưa? Để em xay cho một lúc!
Hậu đưa cánh tay quệt mồ hôi trên trán và đáp:
– Em cứ ăn đi. Để chị xay nốt mẻ này rồi mình nghỉ! Cũng may tối nay mát giời nên đở vất vả!
Duyên nhìn chị ngạc nhiên hỏi lại:
– Nghỉ luôn hả chị? Còn sớm mà!
– Còn sớm, nhưng tao phải gội đầu một cái. Ngứa quá rồi!
– Chị gội thì em cũng gội luôn!
Cả hai chị em đều mặc váy lơ lững đến bắp chân, bên trên chỉ có cái yếm nâu, phơi ra nguyên tấm lưng trần trắng muốt dưới ánh trăng. Aó cánh ngoài và khăn vuông đen đều máng trên thành cửa sổ. Xay lúa tuy không phải là công việc nặng nhọc ở thôn quê, nhưng vì đôi tay đẩy cần máy (cối) xay lúc nào cũng phải hoạt động đều đặn, nên chỉ một lúc là mồ hôi vã ra như tắm. Hai chị em đều có cái dáng dong dỏng cao, giống nhau từ tướng đi tới khuôn mặt, đến nỗi nhiều người tưởng lầm là chị em sinh đôi. Vì không cách biệt tuổi tác bao nhiêu nên hai chị em rất thân nhau và mọi chuyện lớn nhỏ đều kể cho nhau nghe, kể cả những tâm sự thầm kín, những mơ ước lứa đôi trong cuộc sống.
Ăn xong củ khoai, Duyên bưng bát nước trà nguội uống cạn rồi đứng dậy, vừa đúng lúc Hậu cũng dừng tay vì thóc trong máy (cối) xay không còn nữa. Hậu thấy rõ lớp mồ hôi chảy thành dòng từ bờ vai trần xuống tới cạp váy. Cô thở mạnh, với tay lấy áo và khăn máng trên cổ rồi giục Duyên:
– Thôi, đi tắm! … Nhớ bưng rổ khoai vào bếp!
Hai chị em vào buồng lấy quần áo rồi kéo nhau ra giàn nước kế bên bụi chuối bên hông nhà. Bình thường thì hai chị em hay xuống tắm dưới ao. Nhưng đêm nay trời sáng sủa quá, tự dưng thấy ngại vì nhà hàng xóm ở bờ ao bên kia có đến năm cậu con trai hay rình để nhìn Hậu và Duyên vào những đêm trăng trung tuần.
ở nhà trên, bà Lương đang u sầu nói chuyện với chồng về sự “thay lòng đổi dạ” của bà Cần, không hỏi Hậu cho con trai của bà nữa. Ông Lương ngồi hút thuốc lào và uống trà liên tục, không phát biểu lời nào. ở với chồng mấy chục năm, bà Lương biết những khi chồng trầm lặng như thế là những lúc trong lòng ônh buồn lắm. Bà chép miệng than:
– Ông nhớ không? Bằng tuổi cái Hậu bây giờ, tôi đã đẻ thằng Tân rồi!
Chợt nhìn thấy hai con ôm quàn áo ra giàn nước, ông vội bảo vợ theo thói quen của một thầy lang:
– Bà ra bảo chúng nó tắm nhanh nhanh lên rồi vào. Ngồi ngoài ấy mà dầm nước, đêm hôm gió máy …
Bà Lương đứng dậy. Ông nói vói theo một câu an ủi vợ:
– Tôi giục là giục thế thôi. Cha mẹ nào mà chả mong cho con mình sớm yên bề gia thất. Nhưng duyên số chúng nó chưa đến thì biết làm sao! Nói cho cùng thì có hai đứa chúng nó ở nhà, bà với tô cũng đỡ vất vả!
Bà Lương không nói gì, rảo bước nhanh xuống thềm, băng ngang mảnh sân rộng ra hướng giàn nước. Dù chồng đã nói như thế, nhưng bà vẫn cảm thấy ấm ức và muốn chửi bà Cần một trận cho hả. Làng này, gia đình bà tuy không giàu nhưng vốn được trọng vọng vì thuộc loại có chữ nghĩa. Con bà tuy không đẹp lắm nhưng so ra cũng dễ coi, thế mà bà Cần lại ngang nhiên rút lại lời nói, thì còn gì là uy tín của người lớn với nhau.
Hôm sau, cả nhà vui hẳn ra, bà Lương cũng quên bẵng đi nỗi ấm ức và mối hận lòng đối với câu chuyện của bà Cần ngày hôm qua. Cậu hai Tân, đứa con đầu lòng của ông bà bấy lâu nay đi học ở Hà nội, hôm nay về quê nghỉ hè. Bốn anh em gặp nhau, chuyện vãn không ngừng. Sau bửa cơm chiều, ông bà Lương ngồi ở nhà trên uống trà, còn Duyên, Hậu và Tân ra ngồi ngoài hiên nhà hóng gió. Duyên nhìn anh rồi nũng nịu:
– Anh Hai kể chuyện cho chúng em nghe đi. Chúng em thích nghe chuyện lắm! Bố dạo nầy mệt hay sao ấy, chả kể chuyện cho chúng em nghe nữa!
– Vừa lúc ấy, cậu út Hoàn đi đâu về, từ ngoài cổng băng ngang mảnh sân chạy ập vào ngồi xuống bên cạnh Tân, phanh cút áo ngực cho mát và lên tiếng:
– Anh Minh, con bác Tuyền bị bắt rồi! Lý trưởng cho người đến tận nhà bắt giải lên tỉnh. Người ta kéo ra xem đông lắm, đứng chật cả hai bên đường, em cũng chạy theo mãi đến sân đình mới về!
Cả hai chị em cùng sửng sốt trước bản tin sát đánh, bởi ai cũng biết rất rõ Minh, cùng chà lứa với Tân và cùng được gửi xuống học ở Hà Nội. Riêng với gia đình này thì Minh còn có mối liên hệ sâu xa hơn vì thuở nhỏ, Minh là học trò của ông Lương, đã từng ngày ngày đến ngồi xếp bằng trên chiếu để học chữ Nho. Câu nhận xét đầu lưỡi được ông Lương nhắc đi nhắc lại về Minh là:
– Thằng này sáng dạ lắm, nhưng chỉ phải cái nghịch như quỉ!
Minh ngồi ở nhà ông Lương được hai năm thì ông bà Tuyền cho con bỏ chữ Hán để đổi sang tiếng Tây và chữ quốc ngữ, rồi xuống Hà Nội trọ học ở nhà một người bà con. Cùng ở Hà Nội, nhưng Tân ít gặp Minh vì khác trường và khác ngành. Tuy ít gặp nhưng anh thường nghe thiên hạ nhắc đến những hoạt động của Minh mà ai cũng coi là khá táo bạo thời bấy giờ.
Hậu hỏi Hoàn:
– Có biết bắt về tội gì không? Nấu rượu lậu chắc?
Hoàn lắc đầu đáp:
– Em không biết! Nhưng nhà ấy thì có bao giờ nấu rượu lậu!
Hậu buột miệng nhắc đến việc nấu rượu lậu là vì làng này Tây đoan hay về bắt rượu. Có khi bắt trúng người nấu rượu lậu thật. Cũng có khi bắt oan chỉ vì người ta thù oán, cố tình làm hại nhau bằng cách giấu tang vật, như bã rượu, nồi ba mươi, bong bóng trâu v.v.. ở bờ ao hay trong phần ruộng của người mình thù, rồi báo Tây đoan về bắt.
Nghe Hòan nói Duyên cũng phụ họa theo:
– Đúng! Nhà bác Tuyền xưa nay có bao giờ dính dáng đến rượu! Anh Minh bị bắt chắc là vì ông lý Bân vốn không ưa anh ấy, nên tìm cớ bắt!
Hậu lắc đầu bàn góp:
– Ông lý dù có ghét thì cũng phải có lệnh trên mới bắt được chứ!
Tân nén tiếng thở dài, đăm đăm nhìn ra sân. Anh biết Tân bị bắt vì nguyên cớ gì, nhưng anh không thể nói với các em. Thực dân Pháp có một sai lầm là càng đào tạo đông nhân tài, càng khuyến khích dân bản xứ đi học nhiều, thì số người chống Pháp lại càng đông. Chẳng hạn như chính bản thân Tân, thuở còn ở nhà, có bao giờ nghĩ đến đất nước đâu. Nhập trường với bao nhiêu thanh niên cùng lứa tuổi, bị lôi cuốn vào phong trào đấu tranh đang lan rộng, không gia nhập tổ chức này thì cũng ghi danh vào hội kín khác. Những tấm gương ái quốc của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, tiếng bom Sa Điện Phạm Hồng Thái, tất cả đã làm nức lòng người tuổi trẻ, nhắc họ cái nhục của người dân không còn chủ quyền đất nước. Minh là một trong những người ấy. Minh đã bị bắt. Biết đâu một ngày nào đó sẽ đến lượt Tân, Tân hạ giọng vừa đủ các em nghe:
– ít lâu nay, thanh niên bị bắt nhiều. Làng này còn ít đấy, chứ ở Hà Nội thì đông lắm! Tây kết án họ là “làm giặc”. Nhưng thật ra họ là những người chống Tây để giành lại độc lập!
Lũ em cúi đầu suy nghĩ. Duyên buột miệng nói:
– Anh Minh nom lù đù thế mà cũng dám chống Pháp! Bạo nhỉ!
Thật ra thì Minh không phải chàng trai lù đù như Duyên nhận xét. Duyên giả vờ gán cho Minh hai tiếng đó chỉ vì ông bà Truyền là chỗ quen biết với bố mẹ của Duyên và dân làng vẫn đồn nhau là ông bà Lương muốn gả Duyên cho Minh sau khi anh tốt nghiệp trường cao đẳng thương mại. Thói quen của con gái thời ấy là dù trong lòng có yêu ai, thì bên ngoài vẫn phải làm bộ hững hờ như Duyên đang nói về Minh. Làng này, hầu như ai cũng biết cái tính ngang tàng của Minh. Ông bà Truyền thì than với hàng xóm là “nó thông minh nhưng bướng bỉnh. Cha mẹ sinh con, giời sinh tính”. Các cụ kỳ hào chức sắc thì mắng Minh là “thằng không biết kẻ trên người dưới”. Chỉ có bằng hữu ngày ngày gần gũi, mới biết Minh là người muốn phá vở tất cả các lề lối cũ mà anh cho là không còn hợp thời nữa. Chống ngoại xâm và xóa bỏ hủ tục xã hội là hai mục tiêu mà Minh muốn nhắm tới, sẳn sàng theo đuổi bất chấp trở ngại. Còn nhớ cách đây hai năm. Minh về nghỉ hè với gia đình đúng dịp Hải Ninh xảy ra một chuyện bi hài mà giờ này cả làng chưa ai quên. Cách nhà Minh bốn căn, có cô Lụa góa chồng sống thui thủi với đứa con còm cõi. Hai mươi ba tuổi, gái một con hơ hớ, ra vào trong căn nhà nhỏ quạnh quẽ, bao nhiêu ve vãn bướm ong dồn dập đến với Lụa. Từ các quan viên chức sắc đến trương tuần và thậm chí cả thằng mõ trong làng cũng muốn tạt vào ngủ một đêm với Lụa. Nhưng chẳng ai làm gì được. Rồi bổng dưng cả làng giật mình vì tin Lụa có bầu! Thôi, phen này thì bỏ mẹ rồi! Làng Hải Ninh vui như tết, bởi cái tục “ngả vạ” vẫn còn duy trì mạnh mẽ. Không chồng mà chửa là làng sắp có đại tiệc. Xóm trên thôn dưới đi đâu cũng nghe bàn tán xôn xao vì đã lâu mới vớ được một người chửa hoang. Các cụ khăn đóng áo dài, khệnh khạng kéo ra sân đình, mặt ai cũng đằng đằng sát khí để tỏ rõ cho con cháu biết mình đang đau khổ vì luân lý suy đồi! Thằng Mõ cất giọng lanh lãnh, gõ mõ liên hồi, “Chiềng làng chiềng chạ. Thượng hạ đông tây”, đi rao khắp hang cùng ngõ hẻm cho mọi người biết. Bao nhiêu nhân khẩu quanh năm chạy ăn từng bửa, nay tạm quên đi nổi thống khổ ngàn đời để kéo nhau ra nhìn mặt cô Lụa khôn ba năm dại một giờ. Trương tuần gậy gộc hùng dũng, nhận lệnh lý trưởng, áp giải Lụa cho các cụ hỏi tội. Lụa gửi con cho mẹ, mặc áo tứ thân, váy lĩnh, tóc` vấn đuôi gà, đi giữa hai gã tuần phiên nhiều lần ve vãn Lụa. Bụng Lụa chưa lớn lắm, nhưng ngực đã căng phồng, đẩy cái yếm trắng nhô lên một cách khiêu khích. Các cụ ngứa mắt lắm. Trong thâm sâu ai cũng ấm ức vì dụ mãi mà không chiếm được Lụa, nay mới có dịp trả hận. Chánh tổng người bệ vệ, hút xong điếu thuốc lào khai vị, đập ba-toong vào cột đình và lớn tiếng mắng, y như cảnh Thị Mầu trong tuồng Quan Âm Thị Kính:
– Con kia! Mày dám làm nhục cả làng này! Mày ngủ với ai, phải khai ra ngay không thì ông chẻ xác mày ra!
Nhiều bà đứng vây quanh, chả có nhiệm vụ gì cũng tốc váy nhảy chồm chồm lên mà xỉa xói, bởi vì “một người lảm đĩ, xấu danh đàn bà”!
Lụa cứ đứng yên, không trả lời mà cũng nhất định không khóc, không van xin. Lý trưởng mặt đỏ gay, tiếp lời chánh tổng:
– Mày gan phải không? Con này láo! Cụ chánh hỏi mà mày không giả nhời hả? Thằng nào đã ngủ với mày? Mày khai ra, tao bỏ tù nó! Mày không khai thì mày khổ vào thân!
Lụa vẫn đứng yên, mắt mở trừng trừng nhìn lý trưởng, nhớ lại những lần ông tạt ngang, gạ gẫm Lụa. Lý trưởng đập cái quạt xuống chiếu và nạt lớn:
– Được rồi, để xem mày gan to đến đâu! Trương tuần! Trói nó lại!
Có tiếng dạ thật lớn, nhưng chẳng thất ai xông ra trói. Trên chiếu chủ tọa, mỗi người nạt nộ một câu rồi các cụ chụm đầu vào nhau thì thầm một lúc như bồi thẩm đoàn hội ý trước khi tuyên án. Cuối cùng lý trưởng mới đứng dậy, dõng dạc công bố quyết định: Lụa phải thửa một bửa cổ đãi cả làng từ già đến trẻ để tạ tội. Cứ “tám hai bốn một”, cả ngàn nhân khẩu không được thiếu người nào!
Đến nước này thì Lụa mới sợ. Tiền đâu ra? Bán cả nhà cũng không làm nổi bữa cỗ! Lụa òa lên khóc! Lý trưởng chỉ mặt quát:
– Bây giờ thì đã chịu khai chưa? Thằng nào làm cho mày có chửa? Khai ra để làng bắt vạ nó! Không khai thì một mình mày chịu! Nghe chưa!
Sau câu nói ấy, bao nhiêu cặp mắt đều đổ vồn vào Lụa chờ đợi. Các cụ hồi hộp lắm vì đang nóng ruột muốn biết đứa nào may mắn đã ôm ấp Lụa trong khi Lụa từ khước biết bao nhiêu ông có máu mặt trong làng! Các bà lại càng hồi hộp hơn, chỉ sợ Lụa khai ra thủ phạm là chồng mình!
Đang lúc dầu sôi lửa bỏng như vậy thì bỗng có tiếng đáp:
– Bẩm các cụ! Con đây ạ! Con là cha đứa bé trong bụng cô Lụa đấy ạ!
Mọi người đều giật mình sửng sốt, nhốn nháo nhìn quanh xem ai vừa lên tiếng. Các cụ kỳ hào ngồi xử án chồm người trố mắt ngó ra. Một thanh niên rẽ đám đông, khoan thai tiến lên trước sân đình. Người ta ồ lên một tiếng rồi xầm xì bàn tán như ong vỡ tổ. Chàng thanh niên đó chính là Minh. Làng nầy chỉ có vài người như Minh, như Tân được đi học tận Hà nội, nên người ta nể nang lắm. Và vì nể nang, người ta càng kinh ngạc tại sao một chàng trai đầy tương lai như Minh, lại hạ mình ngủ với Lụa để bây giờ lâm vào cảnh dở khóc dở cười! Trai tơ gái goá là chuyện hiếm hoi trong làng! Có người toan chạy về báo tin cho ông bà Truyền biết, nhưng lại tiếc rẻ, đứng lại xem làng xử trí với Minh như thế nào! Chính Lụa cũng trố mắt nhìn Minh tự hỏi tại sao Minh lại tự nhận đã ngủ với Lụa. Minh mặc áo dài trắng, quần cháo lóng vải nội hoá, chân đi guốc mộc, dáng dấp thư sinh, dịu dàng đưa mắt nhìn Lụa khẽ gật đầu. Lụa buột miệng kêu lên nho nhỏ:
– Cậu Minh! Sao cậu lại…
Minh xua tay lắc đầu làm hiệu bảo Lụa đừng nói. Trên chiếu chủ toạ, sau lưng chánh tổng, ông phó lý đang bưng bát nước chè đưa lên miệng, nhìn thấy Minh, đánh rơi bát nước, đổ lênh láng trên đũng quần. Bởi ông là chú ruột của Minh! Ông lật đật đứng dậy, chạy xuống lôI tay thằng cháu ngông cuồng và mắng:
– Mỗy rồ rồi hả Minh? Chỗ nầy đâu phải là chỗ cho mày đùa. Mày có ăn có học sao lại dại thế là thế nào? Đi về ngay!
Ông biết chắc chắn thủ phạm không phải là Minh, bởi hai hôm liền, Lụa đã chay sang kêu cứu với ông để nhờ ông nói khéo với chức việc trong làng. Ông không thể nào ngờ được thằng cháu mình tự dưng nhảy ra quàng cái ách vào cổ. Ông tái mặt ngượng ngùng với quan viên chức sắc và bàng dân thiên hạ đang trố mắt nhìn thằng cháu ông. Minh từ tốn bảo ông:
– Chú cứ để yên cho cháu nói! Chú lên ngồi đi, để mặc cháu!
Ông phó lý ngần ngừ một lúc rồi đau khổ trở lại chỗ cũ. Nước trà đậm thấm vào đũng quần làm ông ngứa ngáy khó chịu nhưng không tiện đưa tay ra gãi chỗ hiểm trên thân thể! Dân chúng vẫn ồn ào bàn tán. Lý trưởng phải quát lớn:
– Các ông các bà im lặng! Im, không thì tôi đuổi về hết bây giờ. Tuần đâu? Giữ trật tự!
Minh lùi lại đứng song song bên cạnh Lụa, nét mặt thản nhiên làm các cụ ứa gan. Nhất là lý trưởng. May cho Minh là truyền thống của làng bao giờ cũng nể người có học, nhất là lại có ông phó lý đang ngồi chung chiếu là chú của Minh, nên các cụ tạm nuốt giận, chưa ra tay trừng trị cái thái độ hỗn láo của anh. Lý trưởng hỏi Lụa:
– Thị Lụa! Có phải thằng nầy ngủ với mầy không? Phải khai cho đúng!
Lụa quay sang nhìn Minh hỏi ý. Nhưng Minh dõng dạc đáp ngay:
– Bẩm cụ lý, con đã nhận con là bố của đứa bé trong bụng cô Lụa, sao cụ còn hỏi làm gì?
Lý trưởng nắm cái quạt giấy chỉ vào mặt Minh quát:
– Tao không họi mày! Ai cho phép mày giả nhời!
Phó tổng cũng lên tiếng thị oai với Minh:
– Mày đừng tưởng mày học được dăm ba chữ võ vẽ rồi về đây ti toe lên mặt với mọi người. Tao nói cho mày biết: phép vua thua lệ làng! Không nể mặt cụ phó thì tao đã gang họng mày ra chứ lị!
Phó lý ghé tai chánh tổng nói một câu, Chánh tổng bụng phệ gật đầu rồi cố gắng mãi mới đứng lên được, giơ cây gậy dứ vào mặt Minh và nói:
– Thằng kia! Không được nhận vơ! Tội người nào làm người nấy chịu. Tao nể ông phó, tao tha cho mày! Cút về ngay! Đừng có làm mất thì giờ các cụ!
Quan viên chức sắc thấy chánh tông cố ý nhân nhượng đối với Minh, nên cũng ngồi im, không nạt nộ Minh nữa. Minh lễ phép trình bày:
– Bẩm cụ chánh! Con đội ơn cụ chánh và các cụ có lòng quảng đại mà tha thứ cho con. Nhưng cụ chánh đã thương thì thương cho trót. Con xin nói một câu rồi con về ngay, không dám làm phiền các cụ. Bẩm cụ chánh, cụ lý và các cụ. Bên làng Thắng cương tỉnh Bắc ninh, có câu chuyện nầy mới xãy ra. Chuyện thật trăm phần trăm, con không dám thêm bớt. Con xin thề trên có các cụ, dưới có các ông các bà, con mà nói điêu con không nhìn thấy mặt trời nữa. Vâng, bà Kiên ở làng Thắng cương góa chồng, ở vậy nuôi con. Bảy tám năm không tai tiếng gì, bỗng bà có chửa và bị làng ngả vạ, y như chị Lụa đây. Bà phải bán cả nhà cửa ruộng vườn để lo bữa ăn khoán của làng, đãi tất cả mọi người, từ đứa bé ẫm ngửa!
Minh đang kể chuyện thì có người chen vào:
– Thì đúng rồi chớ còn gì nữa! Chửa hoang mà lị!
Minh điềm tỉnh đáp:
– Giữa bửa tiệc, đang hầu rượu quan viên chức sắc thì bà ấy quay lại bảo đứa con bên cạnh: “ Con ơi, con vác cái vái của u về, để mình u thưa chuyện với các cụ “. Vâng, đúng thế ạ! Xin cụ chánh và các cụ bỏ lỗi cho. Bà Kiên vừa nói dứt lời, đứa con chưa hiểu gì thì bà ấy đứng ngay giữa đình tụt váy ra và đưa cho con, bảo nó mang về. Còn bà đứng tô hô ưỡng mãi bụng vào mặt các cụ, vỗ bồm bộp vào chỗ ấy và bảo:”Thưa các cụ, nhà cháu không mai mất sớm, cháu cứ tưởng cái nầy là của cháu thì cháu chơi. Hoá ra cái nầy là của làng thì xin rước các cụ, cứ việc đem về rồi muốn làm gì thì làm. Đây, nhà cháu xin trả lại các cụ!
Minh kể đến đây, cả sân đình cùng ồ lên, rồi người thì cười hô hố, kẻ thì che mặt lắc đầu. Những cô gái như Hậu như Duyên thì xấu hổ đỏ bừng mặt. Một ông bình phẩm:
– Gớm! Con mẹ nào mà bạo thế! Đến là tục tĩu!
Người khác cãi:
– Cậu ấy nói thế chứ đàn bà đâu lại có thứ đàn bà trơ trẽn đến thế! Giữa bàn dân thiên hạ mà dám tụt váy ra hay sao?
– Khiếp! Các cụ đang nhấm rượu mà bà ấy dám dí mãi vào mặt các cụ!
Một ông ra vẻ hiểu biết, cố tình nói lớn cho mọi người cùng nghe:
– Cậu Minh cậu ấy kể đúng đấy! Bà Kiên bên Thắng cương thì tôi biết! Hiền lành như cục đất, quanh năm mò cua bắt ốc, nuôi con sống qua ngày chứ có làm gì ra tiền! Nhưng mà ở đời, già néo đứt giây, tức nươc vỡ bờ! Chức sắc trong làng dồn bà ấy vào đường cùng. Con giun xéo lắm cũng quần! Bấc đắc dĩ bà ấy mới tụt váy ra giữa đình làng cho các cụ xấu hổ!
Có lẽ các cụ xấu hổ thật! Chưa nhìn thấy bà Kiên tụt váy, chỉ mới nghe Minh kể, các cụ đã lúng túng cúi mặt nhìn nhau. Lợi dụng tình thế, Minh quay lại nói với đám đông:
– Ông bà nào không tin, xin cứ hỏi thẳng bên Thắng cương thì biết. Bà Kiên vẫn còn ở làng ấy. Nhưng cũng nhờ bà ấy bà tục ăn khoán đàn bà chửa hoang không còn áp dụng trong làng nữa!
Lý trưởng nhanh miệng đáp lại:
– Làng nào có phép của làng nấy! Đây là Hải ninh, không phải là Thắng cương hay thắng nhu gì cả! Mày đem chuyện làng khác ra kể ở đây làm gì?
Ông phó lý, chú ruột của Minh mừng thầm vì thấy thằng cháu mình hỗn láo quá mà các cụ không nỡ trừng phạt. Ông thấy không nên để kéo dài cái trò dạy dỗ nầy, rũi các cụ nổi nóng thì sẽ phiền tới cả ông. Ông vội đứng lên, khẻ xá chánh tổng rồi nói:
– Tôi xin phép, trên có cụ chánh, cụ lý và các cụ, dưới có các ông các bà. Thằng cháu tôi nó trẻ người non dạ, nói năng thất thố làm buồn lòng các cụ. Nhưng ném chuột sợ vỡ đồ quý, nên các cụ cũng niệm tình bỏ qua cho nó, tôi xin hết lòng đội ơn. Thôi thì con dại cái mang, để tôi về nói lại với bố mẹ nó có nhời răn dạy nó …
Rồi ông phất tay đuổi Minh:
– Các cụ đã tha cho, sao không chào các cụ mà về đi, còn đứng đấy làm gì!
Ông trừng mắt nhìn Minh làm hiệu, nhưng Minh lại tiếp:
– Bẩm các cụ, các ông, các bà. Thế giới bây giờ đang thay đổi từng ngày mà chúng ta cứ bám lấy những hủ tục lỗi thời thì bao giờ mới tiến bộ được! Các cụ, các ông, các bà thử nhìn xem: Chị Lụa đây, chồng bị làng bắt đi phu, dầm mưa giãi nắng, không may bị ốm mà mất đi. Chị Lụa một thân một mình, con còn ẳm ngửa, chạy ăn từng bửa không đủ. Có bán cả nhà đi cũng không dọn nổi một bửa cỗ mời cả làng này! Các cụ đã dạy chúng con rằng: Miếng ăn là miếng nhục! Có no béo gì một bửa cơm của người cùng đinh! Thôi thì xin các cụ đại xá cho! Mẹ con chị Lụa sẽ muôn đời đội ơn các cụ!
Minh vừa dứt lời, dân làng đã ồ lên tỏ vẻ đồng ý. Họ ủng hộ Minh trước hết là vì chưa bao giờ họ được chứng kiến một người thường dân dám đứng ra tranh luận với các quan viên chức việc trong làng. Cảm tình của đám đông dành cho Minh, làm các cụ đâm ra bối rối. Lý trưởng vớt vát:
– Nhưng nó ngủ với ai, sao nó không khai ra?
Minh đáp:
– Thưa cụ lý. Chị ấy ngủ với ai thì sau khi sinh nở, con chị ấy chị ấy nuôi chớ cụ lý có nuôi đâu ạ! Mà nói xin cụ lý bỏ qua cho, thà chị ấy cứ giữ kín còn hơn khai ra, có khi lại làm làng mình dở khóc dở cười!
Mọi người ồ lên nhất trí. Những tiếng cười sảng khoái cất lên, những cái đầu gật gù nhìn Minh cảm phục:
– Có ăn có học nó khác! Cậu ấy nói cứng lắm. Các cụ không bẻ vào đâu được
Chánh tổng đứng lên tuyên bố giải tán để các cụ họp riêng, rồi sẽ cho dân làng biết sau. Người ta bu quanh lấy Minh và Lụa. Lụa cứ chấp tay xá mãi, cảm ơn Minh đã liều mình cứu cô thoát cơn hoạn nạn!
Quả nhiên từ đó các cụ lờ đi. Lụa khỏi phài bán nhà kàm tiệc. Chỉ có Minh là nổi tiếng như cồn, ai ai cũng khen ngợi. Riêng ông lý trưởng thì ấm ức lắm vì hai lý do: vừa mất bửa ăn, vừa tìm không ra thủ phạm ai đã ngủ với Lụa. Mối hận canh cánh ấy kéo dài đã hai năm, mãi đến nay lý trưởng mới nhận được chỉ thị từ trên tỉnh đưa xuống: Chờ Minh về đến nhà là bắt ngay về tội chống chính quyền bảo hộ!
Hôm nay nghe tin Minh bị bắt, Duyên bổng nhớ lại lời nhận xét của bố năm xưa khi bà Lương cứ muốn có ý gả Duyên cho Minh:
– Tính nết ngang tàng như nó thì rốt cục cũng chỉ mua lấy cái khổ vào thân thôi. Cái gương Cao-bá-Quát còn sờ sờ ra đấy!
Bất giác Duyên thở dài và càng cảm phục lời tuyên đoán của bố dù chưa biết đích xác Minh bị bắt về tội gì. Cô quay nhìn Tân và lo lắng cho anh, những người tân học mang đầu óc cấp tiến. Duyên nhớ lại năm ngoái, anh Tân cũng trở về với bộ mặt rất ưu tư, rồi nhân lúc hai chị em xay gạo ở đầu nhà, anh bảo:
– Vừa rồi, Hội đồng Đề Hình xử cụ Phan bội Châu, tuyên án khổ sai chung thân. Cụ là người yêu nước, nhưng hpong trào của cụ chắc đến đây là hết!
Lúc ấy, Duyên đã tò mò hỏi:
– Cụ Phan bội Châu là ai? Anh quen cụ ấy à?
Tân phì cười:
– Cô chả biết tí gì cả! Anh làm sao mà quen được cụ ấy! Anh như hạt các, còn cụ như sao Bắc đẩu! Anh đến gần thế nào được!
Rồi nhân tiện Tân cắt nghĩa:
– Cụ Phan bội Châu một đời bôn ba tìm đường cứu nước khỏi ách nô lệ của Pháp. Cụ là tấm gương ái quốc sáng ngời hiện nay!
Hai chị em nghe vậy thôi chứ không quan tâm lắm vì cụ Phan nào đó hoàn toàn là người xa lạ đối với họ. Nhưng hôm nay, tin Minh bị bắt thì lại khác. Minh là một người quen, dù không thân, nhưng gặp nhau quá nhiều lần trong làng, nhất là có thể nên duyên với Duyên. Cho nên cái tin ấy làm hai cô suy nghĩ rất nhiều, như mất một người thân.
Cả ba chị em cùng ngồi yên lặng cùng nghe ông anh cả nói ra những điều rất mới mẻ mà họ chưa nghe ai nhắc đến bao giờ. Bàng bạc trong những chuyện anh kể, anh luôn luôn hướng về đểm chính là nổi đau của những người dân mất nước. Xa xôi hơn, anh đề cập đến những nhà tư tưởng lớn của Pháp như Jean Jacques Rousseau hay Montesqueieu và cuộc đại cách mạng 1798 giành lại dân quyền cho quần chúng. Giọng Tân hết sức say sưa nhưng lắm khi không giấu được nỗi ngậm ngùi.
Trong nhà bổng có tiếng gọi lớn của ông Lương:
– Chúng mày đâu cả rồi? Hoàn ơi!
Duyên đang ngồi bên Hậu đứng bật dậy, vừa chạy vừa đáp:
– Dạ, con vào ngay. Bố cần gì đấy bố?
Trong phòng khách, tức là gian giữa của căn nhà, có bàn thờ tổ tiên, ông Lương đang tiếp khách, một người khách rất thân mà hầu như tuần nào cũng ghé đến đây với áo dài khăn xếp gọn gàng. Duyên khoanh tay cúi đầu:
– Cháu chào bác Tú ạ!
Khách không nhìn lại, thản nhiên đáp gọn:
– ừ, cháu!
Ông Lương bảo:
– Pha cho bố ấm chè mới. Bưng ấm xuống, bỏ hết bã chè, cọ sạch đi rồi hẵng pha. Mà nước phải thật sủi, nhe chửa?
Duyên nhè nhẹ xếp bộ tách và cái ấm vào khay để bưng ra giàn nước. Cô nghe ông Tú nói với bố cô:
– Tiên sinh cứ tin tôi đi. Vua Khải Định lấy 12 vợ, nhưng không có con. Hoàng tử Vĩnh Thụy là con người khác! Người trong hoàng cung nói ra ngoài là vua Khải Định không thícch đàn bà!
Ngừng một chút, ông Tú chép miệng than:
– Làm vua mà không thích đàn bà thì phí quá!
Ông Tú là một nhà nho mà nhắc đến “thiên tử” với giọng cười cợt thì đủ biết ý niệm tôn quân đã đến lúc suy tàn rồi. Thậm chí khi Khải Định mừng lễ tứ tuần, một danh sĩ miền Nam là Hùynh khúc Kháng từng làm thơ gọi vua là “thằng”, cho cho thấy vua không còn là biểu tượng của quyền uy tuyệt đối nữa một khi vua chấp nhận làm tay sai cho ngoại bang:
Ai về địa phủ hỏi Gia Long
Khải Định thằng nầy phải cháu ông?
Bảo hộ trau dồi nên tượng gỗ
Vua thời còn đó, nước thời không!
Duyên bưng khay trà quay ra. Hậu trông thấy chạy lao lại phụ em để còn mau mau nghe Tân kể chuyện tiếp. Chả mấy khi anh em đầm ấm như thế nầy.
Bốn anh em đang miên man kể chuyện thì đến lượt bà Lương từ ngoài cổng cầm cái roi tre đi vào. Trong làng nhiều nhà nuôi chó, nên hễ cứ bước ra đường là bà phải thủ một cây roi cho yên trí. Từ ngoài cổng, nhìn thấy đàn con tụ tập đông đủ dưới mái hiên đầu nhà, bà vui lắm. Bà vẫn hãnh diện là con cái bà gắn bó chặc chẽ chứ không như nhiều gia đình khác, hơi một tí là anh em cãi nhau ầm ĩ. Bà đi nhanh lại, nhìn duyên và nhập đề ngay:
– Cậu Minh con bác Truyền bị bắt rồi! Khổ thân! Chả biết cậu ấy làm gì mà đến nông nỗi! Năm ngoái bị đuổi học. Năm nay bị bắt! Nghe nói cậu ấy vừa ở Hà nội về thì lý trưởng dẫn người ập vào bắt. Chắc là có lệnh lâu rồi!
Cậu út Hoàn lên tiếng:
– Chúng con biết rồi mẹ ạ! Con vừa ở ngoài đình về. Chính con nom thấy mà. Con với mấy đứa nữa đi theo anh Minh ra tận đầu làng. Anh ấy bị trói mà vẫn cứ nói cứ cười! Cụ lý cầm roi đuỗi mãi chúng con mới chịu về!
Bà Lương lo âu bảo Tân:
– Từ nay con làm gì cũng phải cẩn thận. Đứa nào rủ rê vào hộii nầy hội kia, con phải lánh xa ngay không thì có ngày mang họa vào thân! Ăn nói cũng phải giữ gìn mồm miệng! Hễ nghỉ học là về thẳng nhà, chớ có lang thang ở Hà nội. Mẹ nghe dạo nầy thanh niên bị bắt đông lắm! Nhớ đấy!
Tân cười trấn an mẹ
– Vâng, con nhớ rồi. Bố cũng mới bảo con như thế!
Cái tin đồng bà Lương vừa nêu ra là một sự thật. Trong hai năm 1925 và 1926, mật thám Pháp và tay sai càn quét mạnh mẽ, thả những mảng lưới lớn, đưa vào tù bao nhiêu người trẻ đầy nhiệ huyết. Họ thuộc đủ mọi đảng phái như Phục Việt, Việt nam cách mạng đảng … Riêng trường hợp của Minh thì không có chân trong bất cứ tổ chức nào. Những hoạt động của anh hoàn toàn do lòng yêu nước thúc đẩy mà thôi. Khi cụ Phan bội Châu bị bắt từ Thượng hải đưa về hỏa lò Hà nội, cả một làn sóng sôi sục khắp nơi hướng về cụ. Đến ngày cụ ra tòa, tháng 11 năm 1925, học sinh sinh viên từ các trường xa xôi hẻo lánh cũng đều biết tin, nhờ báo chí và nhờ các thầy giáo khi giảng bài đã đứng hẳn về phía cụ, coi cụ như tấm gương của lòng ái quốc. Đủ mọi tầng lớp quần chúng kéo nhau đến tòa. Thậm chí bạn hàng chợ Đồng xuân còn nghỉ buôn bán để rủ nhau đi. Điện tín khắp nơi gởi về tòa án Hà nội xin ân xá cho cụ Phan bội Châu. Một trong những sinh viên hăng hái nhất trong cuộc vận động nầy là Minh. Anh bị đuổi học từ đó vì nhà trường kết án anh làm loạn. Nghỉ học, nhưng anh ít về Hải ninh.
Báo chí Hà nội lúc ấy chỉ có vài tờ như Trung bắc Tân văn, Thực nghiệp dân báo. Anh mon mem nhờ người giới thiệu anh đến tòa sọan xin cộng tác, vì đó là con đường hữu hiệu để mở rộng tiếng nói. Họ không nhận Minh vào làm thường trực, nhưng hứa sẽ đăng những bài anh viết.
Cụ Phan bội Châu vào tù, nỗi buồn trong lòng người chưa nguôi thì tháng 3 năm sau, 1926, cụ Phan chu Trinh tạ thế ở Sài gòn. Hung tin đưa ra bắc rất nhanh. Khắp nơi đều làm lễ truy điệu. Minh lại đứng đầu cuộc vận động nầy mặc đầu anh đã bị cảnh cáo cấm tụ tập đông người. Lễ truy điệu Phan chu Trinh diễn ra khắp nơi, có chỗ công khai, có nơi kín đáo, có người bị bắt, có người được mật thám ngơ đi. Riêng Minh thì thực dân không tha vì trong lễ truy điệu, anh đã phát tờ truyền đơn in lại lời cụ Phan bội Châu nói với quan tòa “Tôi là người nước Nam, tôi biết yêu nước tôi. Tôi muốn đánh thức dân tộc Việt nam …” Trong đám đông dự lễ truy điệu, biết bao nhiêu tay sai mật thám trà trộn vào và Minh đã đưa truyền đơn cho cả những người đó. Chúng không bắt anh tai chỗ vì sợ phản ứng bất lợi trước đám đông. Chúng theo dõi và chỉ thị địa phương, chờ anh về là tóm liền.
Việc Minh bị bắt đối với bà Lương tất nhiên là một tin buồn vì hai gia đình quen biết nhau. Lát nữa đây, bà sẽ cùng chồng sang hỏi thăm một tiếng cho đúng thủ tục xã giao. Ngày trước, hai gia đình có bàn đến chuyện kết tình thông gia, để Duyên về nâng khăn sửa túi cho Minh sau khi anh tốt nghiệp. Nhưng bà Lương biết rõ việc ấy không thành bởi những chàng thanh nĩên từ nhà quê ra Hà nội học
Thường bị biến chất hoàn toàn, ít khi còn muốn lấy vợ ở quê nhà nữa. Bà không trông mong gì ở Minh mà chính Duyên cũng dẹp hẳn niềm hy vọng để về sau khỏi thất vọng. Nhà bà tuy nghèo, nhưng được phần đông dân làng trọng vọng chỉ vì họ quí cái danh nhà giáo của ông Lương và vì có thêm Tân đi học tận Hà nội. Chính vì thế, hai cô con gái bà được nhiều gia đình để ý, mặc dầu nhan sắc của hai cô chỉ ở mức trung bình.
Nghe mẹ nói về Minh, Duyên mơ màng nhìn xuống ao. Qua khóm tre thưa có những thân nhỏ uốn cong la đà chạm tới mặt nước, mấy con vịt đang nhàn hạ bơi lội, thỉnh thoảng chúi đầu xuống bắt cá. Duyên nhớ lại năm ngoái bất thần Minh đến thăm bố cô. Lúc ấy, hai chị em đang ngồi chẻ củi trong bếp, thoáng thấy Minh từ cổng đi vào, Hậu giật mình buông con dao và vỗ vào lưng Duyên:
– Ai như anh Minh kìa!
Duyên trố mắt nhìn ra rồi kêu lên nho nhỏ:
– Đúng rồi! Anh ấy chứ ai?
Cùng với câu nói đó, mặt cô đỏ bừng, vừa vui mừng vừa xấu hổ. Cô lấy làm lạ là mấy năm nay cô không còn nghe thấy bố mẹ nhắc đến chuyện lứa đôi của cô và Minh nữa, sao bổng hôm nay Minh lại đến? Thanh niên tân học ít ai muốn lấy vợ nhà quê! Bà Lương thường bảo thế cho nên bà có ý bỏ cuộc.
Nhìn thấy Minh bước vào sân, cả Hậu và Duyên cùng nhớ ngay đến câu chuyện chửa hoang của Lụa năm ngoái. Lụa đã sinh con, và điều bí mật lạ lùng là đến giờ nầy vẫn chẳng ai biết bố của đứa bé ấy là ai?
Hậu giục Duyên đi rửa mặt thay quần áo vì sợ ông Lương sẽ gọi Duyên bưng nước lên nhà. Duyên ngượng ngùng đứng dậy, vòng phía sau bếp ra giàn nước rồi vào buồng thay cái yếm trắng và cái váy mới. Đứng chải tóc trong buồng, cô nghe tiếng Minh chào ông Lương ở gian giữa. Cô nhìn qua kẽ vách ghép bằng nan tre, thấy Minh năm nay gầy hơn năm ngoái.
– Lạy thầy ạ! Thầy vẫn mạnh khỏe đấy chứ ạ!
Minh vốn người bạo dạn, ăn to nói lớn ngay từ thuở còn bé. Ông Lương ngồi ở bàn, đang xếp lại bộ chén cổ, ngạc nhiên thấy cậu học trò cũ bước vào. Ông vui vẽ hỏi:
– Anh nghĩ hè rồi đấy ư? Vào đây uống cốc nước với thầy!
Minh kéo ghế ngồi, miệng nói “Con xin phép thầy “ rồi thản nhiên đáp câu hỏi của ông Lương:
– Bẩm thầy đã nghỉ hè đâu? Nhưng con đã bị đuổi học rồi thầy ạ!
Ông Lương đang cầm cái se điếu, suýt nữa đánh rơi xuống đất. Ông sửng sốt hỏi lại:
– Anh bị đuổi học à? Sao thế? Thầy nghe nói anh học giỏi lắm cơ mà!
Rồi ông ngẩng lên, hướng xuống bếp gọi lớn:
– Chúng mầy đâu? Duyên ơi! Pha nước. Nhà có khách!
Nghe bố giục, Duyên rón rén từ buồng ngủ bước xuống bếp. Cô nghe tiếng Hậu vọng lên:
– Vâng! Con bưng lên ngay!
Ngoài phòng khách, ông Lương nôn nóng hỏi lại:
– Sao anh lại bị đuổi?
Minh cười thoải mái:
– Bẩm, con vận động bãi khóa để phản đối thực dân Pháp xử án cụ Phan bội Châu ạ!
Ông Lương chớp mắt không nói gì. Tuy không bày tỏ ý kiến, nhưng trong lòng ông vừa nhen nhúm chút nể phục. Tính khí của Minh thì ông không lạ, lúc nào cũng muốn làm chuyện khác đời. Ông lẩm bẩm nói một mình:
– Hồ mã tê Bắc phong. Việt điểu sào nam chi. Phan tiên sinh đổ đầu kỳ thi hương năm Canh tý, tức là đã cách đây 25 năm. Tuy thành đạt nhưng tiên sinh không màng công danh, chỉ bôn ba tìm đường cứu nước!
Minh bụột miệng chen vào:
– Bẩm thầy! Quả đúng như thế đấy ạ!
Ông Lương nhìn Minh hỏi:
– Thế bây giờ anh định làm gì?Về ở nhà luôn sao?
Minh cười:
– Bẩm thầy con cũng chưa biết ạ!
Vừa lúc ấy Duyên bưng khay nước lên, bước đi chầm chậm, ngượng ngùng cúi đầu chào Minh:
– Anh sang chơi ạ!
Minh khẽ nhón người đứng dậy, nhưng không đứng hẳn, chỉ lom khom cho ra vẻ lịch sự rồi lại ngồi xuống ngay:
– Chào cô Duyên, tôi mới về, sang chào thầy!
Duyên đặt ấm chén trên bàn rồi bước lui ra cửa và xuống bếp với chị. Một lúc sau, hai chị em thấy ông Lương tiễn chân Minh xuống tận sân. Duyên đứng dậy, nép sau cửa bếp trông theo, mãi đến khi Minh ra khỏi cổng Duyên mới vào buồng thay lại bộ quần áo cũ để tiếp tục chẻ củi.
Rồi từ đó, một năm qua, Duyên không gặp lại Minh, cũng chẳng có một lời nào nhắn hỏi. Chuyện quan hệ tình cảm giữa hai người coi như không còn gì. Anh chàng bị đuỗi học nhưng không về Hải ninh, cứ lang thang trên tỉnh. Cho đến hôm nay Minh mới về thì bị bắt ngay tại nhà. Minh bị bắt, làm bà Lương lo sợ, dặn đi dặn lại Tân phải hết sức cẩn thận và Tân dĩ nhiên cũng phải hứa cho mẹ an lòng.
Bà Lương bỏ vào nhà. Bốn anh em lại tiếp tục câu chuyện dở dang. Hậu cầm cuốn sách của Tân, lật qua lật lại nhưng không biết đọc. Tân nhìn các em chợt nãy ra một ý định táo bạo, liền hỏi:
– Các em có thích đọc chữ quốc ngữ thì anh dạy cho! Biết chữ rồi thì truyện gì cũng đọc được, chả cần phải người khác kể cho mình nghe nữa!
Như một phản ứng tự nhiên, Hậu đưa mắt nhìn vào nhà, sợ bố nghe được cái đề nghị cấm kỵ của Tân. Nhưng dĩ nhiên ông Lương không nghe thấy, bởi ông ngồi ở phòng khách, đang chúi đầu vào bàn cờ tướng. Niềm vui duy nhất của ông trong quãng đời còn lại là đánh cờ với người bạn học cũ cùng hoàn cảnh, đó là ông Tú Nhân. Mượn quân cờ để quên thế sự, như người uống rượu tiêu sầu.
Chữ Nho đã chính thức bị triều đình bãi bỏ từ năm 1919 để thay vào đó bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Bãi bỏ chử nho thì cái công đèn sách bao nhiêu năm cũa những người như ông Tú Nhân, ông giáo Lương, đều đổ xuống sông hết! Bởi vậy, hai ông thường gặp nhau để tâm sự, để trách cứ cuộc đời “thương hải biến vi tang điền” lắm khi làm hai ông rướm lệ!
Ngoài đầu nhà, Hậu hồi hộp nói nhỏ với Tân:
– Thằng Hoàn thì nó biết đọc biết viết rồi. Chỉ có hai đứa chúng em là con gái. bố cấm học chữ, sợ làm bại hoại gia phong. Nếu anh dạy chúng em thì phải giữ kín. Bố biết thì bố đánh chết!
Duyên dí ngón tay vào trán Hoàn và bảo:
– Ăn thua là mày! Cái mồm mày cứ oang oang lên, bố biết được thì chúng tao ốm đòn!
Tân trấn an:
– Bắt đầu từ ngày mai, mỗi ngày anh dạy vài chữ. Nhanh lắm. Có khi chỉ một hai tháng là đọc được! Bố không biết đâu! Khi anh đi rồi thì Hoàn thay anh dạy cho các chị!
Cả hai cô đều phấn khởi gật đầu. Phấn khởi vì nhìn trước thấy rằng họ là những cô gái đầu tiên ở Hải ninh biết đọc biết viết. Hai cô sẽ có thể tự đọc truyện mà chẳng cần nhờ tới ai kể lại. Biết bao nhiêu người trong làng hễ có việc phải viết lá đơn, đều cạy cục đến nhờ ông Lương hoặc Tân viết giúp. Chỉ nay mai Hậu hoặc Duyên sẽ thay cha và anh làm công việc đó cho dân làng. Cái viễn ảnh một cô gái quê cầm cuốn sách đọc là điều mà cả hai chị em đều thấy vừa kêu sa vừa lãng mạng.
Tân nhắc lại:
– Muốn học thì phải đóng sách, phải mua bút!
Thờ bấy giờ, tập vở hầu như chưa có ở Hải ninh, vì hàng xén có bày bán chắc cũng chả ai mua. Họ chỉ bán những xấp giấy rời để người ta viết thư hay làm đơn. Trên huyện trên tỉnh mới có trường, giấy bút bán dưới nầy làm gì! Bởi vậy, muốn có ngay một cuốn vở để tập viết thì phải mua những tờ giấy rời, lấy kim chỉ đóng gáy lại. Cậu út Hoàn bảo hai chị:
– Tạm thời chưa có giấy thì lấy lá chuối non mà tập viết cũng được. Lật úp tàu lá chuối xuống, lấy cái que mà viết lên thì cũng rõ chả thua gì viết trên giấy!
Tân cười dễ dãi:
– Thế cũng được. Dạo còn bé, anh cũng hay vẽ trên tàu lá chuối. Nhưng trước sau gì cũng phải sắm giấy bút mới học nhanh được. Bút mực và cả bút chì nữa!
Duyên hăng hái đáp:
– Sáng mai em chạy ra chợ. Hôm nay thì cứ thử tạm dùng lá chuối cũng được!
Thế là ngay buổi tối hôm ấy, cơm nước dọn dẹp xong, hai chị em xuống nhà kho đốt đèn, cài then cửa và bắt đầu học đánh vần ABC. Hậu cẩn thận bày sẳn mẹt đỗ đen bên cạnh, để nếu bất thần ông Lương có xuống thì sẽ tưởng là hai chị em đang nhặt sạn trong mẹt đậu. Hai cô vui lắm, có khi bật cười vì một mẫu tự hay một chữ viết phát âm ngộ nghĩnh, nhưng không ai dám cười to, sợ ông Lương trên nhà nghe thấy:
– O tròn như quả trứng gà
Ô thời có mũ, ơ thời có râu!
Thằng Hoàn thơ thẩn ngoài hiên, canh gát cho hai chị học. Cứ mỗi ngày vài chữ, các cô tiến bộ rất nhanh, nhờ ai cũng háo hức muốn đốt thời gian. Tân trở lại Hà nội, mỗi lần có dịp về thăm nhà đều mang cho hai chị em vài cuốn sách mỏng. Các cô chuyền tay nhau đọc lúc rảnh rỗi hoặc khi đã lên giương ngủ. Có khi bận công việc nhà thì một cô đọc lớn cho cô kia nghe.Song song với việc khuyến khích các em học chữ quốc ngữ, Tân cũng thường nói với các em về những tấm gương yêu nước, mở ra trong lòng hai cô gái quê một chân trời mới về xả hội hủ lậu cần phải cải tiến, về nam nữ bình đẳng trong các nước văn minh trên thế giới và nhất là về ách thống trị của Thực dân Pháp tại Việt Nam. Những tấm gương anh thư liệt nữ trong lịc sử, được Tân nhồi mãi vào đầu các em để cổ võ lòng yêu nước và sự gan dạ của phụ nữ. Tân đem câu chuyện lịch sử của chính nước Pháp: Cô Jeanne d’ Arc 17 tuổi, cầm quân chiến đấu chống lại nước Anh xâm lượt, để rồi cuối cùng dũng cảm nhận cái chết đau đớn là bị thiêu sống ở tuổi hai mươi. Ngày nay cô là nữ Thánh bổn mạng của cả nước Pháp!
Hậu và Duyên thấy rõ sự kỳ diệu của sách vở, của kiến thức. Mới chỉ một thời gian ngắn mà hai cô đã vươn cánh tay đi thật xa, đã mở tầm mắt ra thật rộng và bắt đầu chán ngấy cái đời sống nữ nhi thường tình trong vòng trói buộc chật hẹp của xã hội đầy lễ giáo vô lý. Hậu là người hăng hái nhất, luôn luôn thốt ra những lời phẩn uất đòi thay cũ đổi mới. Tân cứ nhắc mãi hai em là phải hết sức giữ gìn, bởi có nhiều người chưa làm được việc gì hữu ích thì đã bị bắt đi, khép tội tham gia “hội kín”, vào tù hoặc đày đi biệt xứ. Anh cẩn trọng bảo:
– Tai vách mạch rừng! Lúc nào các em cũng phải đề phòng. Ngay cả người trong nhà cũng cần giữ gìn ý tứ. Thằng Hoàn 16 tuổi rồi nhưng tính tình còn lăng quăng lắm! Đừng cho nó biết!
Lúc bấy giờ ở Hà Nội có nhóm trí thức trẻ gồm anh em Phạm tuấn Tài, Phạm tuấn Lâm cùng với Hoàng phạm Trân, đứng ra thành lập nhà xuất bản Nam Đồng Thư Xã trên tầng lầu căn nhà số 6 đường 96, tức đường Trúc Bạch sau nầy. Đây vốn chỉ là căn gác trọ của Phạm tuấn Tài và Hồ văn Mịch, thuê của bà chủ nhà tên gọi bà Cơ, làm nghề bán cháo rong. Bà Cơ ở tầng dưới, nấu cơm tháng luôn cho những người ở trọ.
Phạm tuấn Tài lúc ấy đang là nhà giáo dạy trường Yên Thành. Còn Phạm tuấn Lâm là ký giả có bút hiệu Dật Công, cùng với Hoàng phạm Trân ký bút danh Nhượng Tống, đang viết cho tờ Thực Nghiệp Dân Báo ở Hàng Gai Hà Nội, Nhượng Tống sinh năm 1904 ở Nam Định, tuy không đỗ đạt khoa bảng nhưng sở học rát uyên thâm, nổi tiếng lúc 20 tuổi. Ông tổ vốn là họ Mạc, dòng dõi Mạc Đĩnh Chi. Từ vụ cướp ngôi của Mạc Đăng Dung, con cháu họ Mạc phần đông phải đổi thành họ Hoàng hay họ Phạm. Riêng ông thì lấy cả hai họ là Hoàng Phạm Trân., chuyên phiên dịch các áng văn lớn của Trung Hoa, đồng thời sáng tác lịch sử tiểu thuyết cũng như chèo cổ.
Nằm trên bờ hồ Trúc Bạch, Nam Đồng Thư Xã nhanh chóng trở thành một thứ câu lạc bộ để mỗi thứ năm và chúa nhật, những thanh niên nặng lòng với thời thế, tự tìm đến gặp gở nhau bàn chuyện chính trị. Chính nơi đây đã xuất hiện những khuôn mặt đặc biệt làm nên lịch sử một thời nghịêt ngã của đất nước, như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Hoàng Văn Tùng v.v. Những cuốn sách mỏng của Nam Đồng Thư Xã như: Bố Cái Đại Vương, Trưng Vương, Con Thuyền Khứ Quốc, Gương Thành Bại, Dân Tộc Chủ Nghĩa, Một Bầu Tâm Sự v.v. đã là những luồng gió cực mạnh thổi sâu vào tâm hồn giới trẻ thời bấy giờ, đánh thức lòng yêu nước của họ một cách mãnh liệt.
Việc làm của Nam Đồng Thư Xã tất nhiên không qua khỏi những cặp mắt cú vọ của mật thám. Cho nên nhà giáo Phạm Tuấn Tài bị thuyên chuyển lên tuốt trên tận vùng biên giới Tuyên quang. Nơi đây, dù thiếu phương tiện nhưng ông vẫn tiếp tục vận động kết giao những nhân tố mới, đồng thời cố gắng trở về gặp gỡ các đồng chí ở Hà Nội ít nhất mỗi tháng một lần.
Trong hàng ngũ sinh viên bị lôi cuốn bởi các tác phẩm của Nam Đồng Thư Xã, dĩ nhiên có cả Tân và Minh. Tân thường ghé qua đây mua sách. Đọc xong, anh tìm cách gởi về hoặc đích thân mang về Hải Ninh cho Hậu và Duyên.
Củng có khi Tân đưa cho các em cả những loại sách, loại báo được liệt kê vào hàng quốc cấm hoặc những tác phẩm của nhà Nữ Lưu Thư Quán từ Nam Kỳ đưa ra. Thứ nào hai cô cũng giành nhau đọc thật nhanh rồi bàn luận với khí thế bừng bừng trong tim. Hai chị em thích nhất truyện Trưng Trắc Trưng Nhị vì không ngờ từ thuở xa xưa mà phụ nữ đã dám cầm quân đuổi giặc.
Một buổi chiều mùa Xuân, cả nhà đang chuyển bị ăn cơm thì Tân từ ngoài cổng bước vào.
Bấy giờ, Hải Ninh vừa bước vào mùa đóng thuế thân. Tân về làng cũng vì lý do đó. Nói đúng ra thì không phải chỉ riêng Hải Ninh mà cả nước đều khổ sở vì thuế thân, thường diễn ra khoảng tháng ba tháng tư, nghĩa là ăn xong cái Tết Nguyên Đán thì người ta bắt đầu bước sang mùa thương khó. Thuế thân là thứ thuế đánh vào con người, giống như một món hàng. Đinh tráng tuổi từ 18 đến 60, thuế thân đồng niên phải nộp là hai đồng rưỡi. Ngày trước còn phân biệt nội tịch và ngoại tịch, nhưng từ năm 1921, thì đồng đều như nhau, hai đồng rưỡi ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Riêng Nam Kỳ là đất thuộc địa thì bảy đồng rưỡi. Lúc ấy mua một con trâu chỉ tốn có năm đồng.
Món tiền hai đồng rưỡi là một gánh nặng khá lớn đối với đại đa số dân nghèo quanh năm đi cày thuê. Cho nên cứ mùa thu thuế là cả làng bao phủ một không khí thê lương. Người ta chạy nợ, khất nợ, van nợ, sụt sùi khóc than như có đại tang. Thuế thân được quan Phủ quan Huyện giao khoán cho từng làng, nên Lý trưởng thường tự động tăng thêm những khoản phụ thu để đề phòng thiếu hụt và kiếm tiền riêng bỏ túi.
Buổi sáng hôm ấy, bà Lương đưa tiền cho Tân đi nộp thuế thân. Bà nhìn món tiền gần sáu đồng, hai suất của cha con, thở dài than:
– Hai năm nữa thì đến lượt thằng Hoàn. Suốt năm chạy vã mồ hôi ra mà chả đủ đóng sưu!
Tân chớp mắt muốn khóc. Anh rũ Hậu cùng đi để Hậu chứng kiến tận mắt cảnh thu thuế mà anh cảm thấy rất não lòng. Hai anh em bước ra đường, đã thấy dân làng tất tả ngược xuôi, mặt mũi ai cũng phờ phạc mệt mỏi. Từ sáng tinh mơ, tiếng trống ngũ liên giục giã đã vang lên ngoài sân đình tưởng chừng như không bao giờ dứt. Rồi mõ làng len lỏi đầu trên xóm dưới, cất vang cái giọng khàn đặc để lặp đi lặp lại cái lệnh của quan truyền xuống, mọi người phải sốt sắng mang tiền ngay ra đình làng, đừng để đáo hạn trương tuần sẽ đến tận nhà trói người lôi ra công đường.
Lúc Tân và Hậu ra tới nơi, đã thấy bên cạnh mấy lá cờ lớn bay phần phật trong gió, lý trưởng, phó lý, chánh hội, thư ký, khán thủ, tuần dinh, sốt ruột chạy đi chạy lại, mặt mũi đằng đằng sát khí. Đoàn người xếp hàng nộp thuế khá đông. Lý trưởng đích thân nhận từng đồng xu, bỏ vào tráp. Ông đếm kỹ lắm, chỉ sợ thiếu hụt thì cá nhân ông mất phần. Thư ký húy hoáy ghi sổ, thỉnh thoảng ngừng tay làm điếu thuốc lào và ngụm nước trà nạm sen bốc hơi ngào ngạt. Cứ lâu lâu tuần phiên lại giải về đình một hai người đàn ông thiếu thuế, hai tay trói giật cánh khỉ, bắp thịt sưng vù lên như gói giò lụa. Những tấm thân gầy gò ấy bị cột chung vào đám đông dân làng đồng cảnh ngộ đã bị trói ở cột đình từ mấy bửa nay. Mỗi lần thấy trương tuần giải một người bị trói đến, lý trưởng lại lắc đầu chán ngán vì như thế là lại thêm một người không có tiền nộp sưu. Ông đâu có muốn thế! Đánh chửi chúng nó mãi cũng chán tay, mỏi miệng, chứ có lợi gì đâu! Ông không nộp đủ chi tiêu toàn làng thì chẳng những ông mất ngoại bổng mà có thể còn bị bay chức lý trưởng!
Tân và Hậu đảo mắt nhìn quanh rồi nhập vào đám đông những kẻ may mắn xoay đủ tiền dâng cho lý trưởng. Nhận r a con ông giáo Lương vốn là chỗ quen biết, lý trưởng ngừng tay một giây để hỏi thăm lấy lệ rồi lại cúi ngay xuống kiểm tiền. Nhận đủ tiền rồi, lý trưởng mới phát cho Tân một tấm thẻ bằng giấy cứng màu xanh, chiều dài độ một gang, chiều ngang ba đốt ngón tay, trên đó ghi tên tuổi, quê quán và năm cấp thẻ. Rồi suốt năm đó, đi đâu cũng phải bọc theo trong người vì bất thần có thể bị trương tuần, đội xếp, lính khố xanh, chận xét. Không có thẻ là đi tù ngay! Đặc biệt là ngay sau mùa thuế thì ở đầu chợ, cổng làng, các trạm canh gát mọc lên nhan nhản chỉ để xét thẻ thân. Lý trưởng trao thẻ và bảo Tân:
– Vật bất ly thân! Đi đâu cũng phải giắt trong người. Không có là mang họa vào mình đấy!
Tân không nói gì, chỉ gật đầu rồi lui ra.
Hết người đóng thuế, lý trưởng rít hơi thuốc lào rồi than với phó lý:
– Mới chỉ được non một nữa! Không khéo thì trễ hạn mất!
Phó lý kể công:
– Tôi vừa giục chúng nó đi lùng từng nhà, lùa hết ra đây!
Trong khi chờ đợi dân làng kéo đến, lý trưởng khệnh khạng bước lại chỗ đám người bị trói, diểm mặt từng người và mắng nhiếc inh ỏi. Trương tuần cầm gậy đi hộ tống hai bên, sẳn sàng nện xuống đầu những kẻ bướng bỉnh. Lủ trẻ vây quanh đăm đăm nhìn, có đứa ngồi xổm ngước lên, có đứa đứng cầm cu khoai luộc vừa ăn vừa dửng dưng xem người bị trói. Một thằng bé khoảng năm tuổi, mặc áo ngắn, dưới cởi truồng, từ đâu chạy lại trước đám người bị trói và hỏi:
– Bố ơi! Bao giờ mới về? Mẹ mới luộc lạc, có để phần cho bố đấy!
Lý trưởng quắc mắt khoát tay bảo:
– Xéo ngay! Chỗ nầy là chỗ của chúng mày chơi đấy à! Ông lại cho mỗi đứa một cây gậy bây giờ chứ lị!
Rồi ông nắm tóc một nạn nhân và gay gắt hỏi:
– Thằng nầy! Mọi năm tao có bao giờ thấy mày thiếu thuế! Sao năm nay mày lại đồ đốn ra là thế nào?
Người đàn ông mặt xám ngắt, khổ sở đáp:
– Bẩm cụ Lý, con bị ốm mất hai tháng không làm ăn được gì được! Con vừa khỏi thì lại đến lượt mẹ cháu liệt giường liệt chiếu! Con dành dụm được bao nhiêu, dốc hết ra mua thuốc cho mẹ cháu mà vẫn chẳng khỏi!
Lý trưởng ngắt lời:
– ốm đau gì mày! Mới hôm nọ tao nom thấy mày ngồi uống rượu ở cửa hàng thịt chó con mẹ Tình! Mày còn chối nữa hay thôi?
– Bẩm cụ Lý! Oan cho con quá! Con ốm thật ạ! Cụ Lý đèn giời soi xét, cho con về con cố gắng chạy đầu nầy chạy đầu kia, được bao nhiêu con xin nộp cụ Lý.
Lý trưởng cắt ngang:
– Mầy nộp thuế cho nhà nước chứ có phải cho tao đâu mà kể lể! Tao thức khuya dậy sớm, rát cổ bỏng họng vì lệnh trên chứ tao có tơ hào được của mày xu nào đâu mà mày xin với xỏ
Nạn nhân mếu máo tiếp:
– Bẩm, con cũng biết cụ Lý là cha mẹ của con dân, là đại diện của nhà nước. Nhưng cụ Lý trói con ở đây thì ….
Lý trưởng ngắt lời:
– Thì làm sao? Tao ngần nầy tuổi, ngồi ghế lý trưởng đã gần mười năm, không nhẽ mắc lừa mày đấy chắc? Tao trói mày ở đây, thì con vợ mày mới xót chồng mà lao đầu đi vay! Chứ tao tha mày về rồi vợ chồng chúng mày lần lừa cho qua mùa thuế, chừng ấy tao giương mắt ếch lên mà nhìn chúng mày, chứ làm gì được nữa!
– Bẩm vợ chồng con không dám ạ!
Lý trưởng chấp tay sau đít, lững thững quay lại sân đình và bảo:
– Cứ đứng đấy! Con vợ mày không mang đủ tiền sưu thì đừng có hòng tao cởi trói cho mày
Trên sân đình, ông thư ký vừa quay vào phía trong, cất tiếng gọi thằng mõ:
– Phành đâu! Bưng cơm lên. Cụ lý với các cụ đói cả rồi!
Cảnh tượng ấy làm Tân quặn thắt trong ruột. Nhưng Hậu chỉ nhìn thấy hơi mủi lòng. Năm nào mà cô chả chứng kiến cảnh nã thuế? Lâu dần thành quen, coi đó là chuyện đương nhiên không có gì phải xét lại. Tân kéo tay em gái và bảo:
– Thôi, về!
Khi đã xa hẳn sân đình. Tân mới uất ức nói:
– Tại sao thằng Tây nó sang đây chiếm nước mình, rồi bắt dân mình đóng thuế cho nó để nó mang về làm giàu cho nước của nó? Chỉ tai vì dân mình yếu quá, hèn quá, nên nó mới ngang ngược như vậy!
Rồi cứ thế, Tân miên man dẫn giải, Hậu yên lặng lắng nghe, về đến nhà vẫn chưa dứt. Tân gọi cả Duyên ra đầu nhà, ba anh em ngồi đàm đạo dưới gốc cây bưởi, ai cũng say mê không biết mệt.
Liên tiếp mấy ngày, những lời mạnh mẽ của Tân đã nhanh cónh truyền màu nóng sang cho các em, Khi biết hai em đã có cái nhìn hoàn toàn đổi mới. Tân mới bằt đầu thuyết phục hai em gia nhập tổ chức của mình, đó là Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội.Hai cô khẳng khái nhận lời ngay. Thời ấy, tuyên truyền không cần giỏi, quần chúng vẫn sẳn sàng nghe theo bởi xã hội diễn ra trước mắt đầy dẫy những bất công. Đói nghèo và áp bức là hai môi trường tốt nhất để nãy sinh hạt giống cách mạng. Cả hai thứ ấy đang có sẵn chung quanh các cô. Tân chỉ việc vạch ra cho các em thấy, đổ hết tội cho thực dân và địa chủ, các em thấy hợp lý ngay. Chỉ cần đuổi thực dân, giết địa chủ, dẹp quan quyền, là tự khắc cuộc đời sẽ sung sướng. Hai cô như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài, nhất là Hậu, sẳn sàng cầm súng đi đánh Tây. Chuyện chồng con, mái ấm gia đình, không còn là một mơ ước đáng nghĩ đến nữa. Giả như bây giờ bà Cần có dẫn Tuất đến, chính thức xin hỏi cưới Hậu, cô cũng sẽ dứt khoát quay mặt đi. Lòng cô đang ôm những giấc mộng lớn. Trái tim cô không thể chỉ rung động vì một bóng người.
Có một sự thật lịch sự mà ai cũng nhận thấy là việc cụ Phan Bội Châu bị bắt và đưa ra xử án là một biến cố quá lớn lúc bấy giờ. Lớn bởi vì cụ là biểu tượng của tấm gương ái quốc, là hình ảnh vĩ đại trong lòng quần chúng đến nỗi Nguyễn ái Quốc phải chỉ điểm cho Tây bắt cụ để giành lấy thế độc quyền cho đãng mới thành lập của mình. Việc xử án Phan Bội Châu là một đề tài tranh luận sôi nổi từ mẫu quốc cha đến thuộc địa, từ những quan điểm chống thực dân cho đến cái nhìn của những người ủng hộ chế độ thuộc địa. Pháp căm thù, chỉ muốn xử tử cụ Phan Bội Châu, vì những hoạt động trước đây của Việt Nam Quang Phục Hội. Nhưng giết cụ thì chúng thấy bất lợi vì sẽ biến cụ thành một thánh tử đạo, như lời Phạm Quỳnh nhận xét. Thành ra Pháp đành giảm án, cho giam lỏng và chỉ định cư trú tại Huế.
Tuy nhiên, cũng chính nhờ việc cụ Phan bị bắt mà làng sóng yêu nước bừng bừng khởi dậy trong lòng thế hệ thanh niên Việt Nam trên cả nước, thúc đẩy họ sẳn sàng lao vào cuộc chiến chống Pháp. Chỉ tiếc rằng, giữa lúc khí thế cuồn cuộn như vậy thì chẳng có một đoàn thể quốc gia nào hiện diện, chẳng có một tổ chức chính thống nào có mặt để thu hút sự tham gia của những người nhiệt huyết. Duy nhất trên sân khấu chính trị lúc ấy chỉ có Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Nguyễn ái Quốc vừa ra đời và tung cán bộ đi vận động khắp nơi. Đó là một khoảng trống của lịch sử, tạo cơ hội cho Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội độc diễn tung hoành, lôi kéo biết bao nhiêu người trẻ như Tân, Hậu và Duyên đứng vào hàng ngũ của họ.
Kể từ hôm ấy, cuộc đời của Hậu và Duyên rẽ sang một khúc quanh mới. Nếp sống bình lặng của hai cô gái quê không còn nữa sau khi đã được trang bị một lý tưởng mà hai cô tin là rất cao cả. Trong một phút bồng bột, Hậu mơ màng bảo Tân:
– Làm cách mệnh mà chỉ đi tuyên truyền thì em chả thích tí nào. Có ai dạy cho em bắn súng, giao cho em khẩu súng lục, em sẽ vào tổ ám sát, đi giết Tây!
Duyên quay sang nhìn chị bằng ánh mắt thán phục. Duyên cụng hăng lắm, nhưng chưa bao giờ trong đầu nãy ra ý nghĩ táo bạo là cầm súng giết người. Phụ nữ làm cách mệnh, theo ý cô, chỉ là công tác nội trợ, giao liên hoặc vận động trong giới buôn thúng bán mẹt là phù hợp hơn cả. Tân bảo Hậu:
– Công tác nào cũng quan trọng cả. Nhưng đoàn thể sẽ tùy theo khả năng của từng người mà phân công.
Rồi Tân dặn dò hai em một số công việc phải làm, nhấn mạnh nhiều lần cái nguyên tắc căn bản là phải hết sức bí mật. Sáng sớm hôm sau, trời còn mờ sương, anh đã vội vã trở lại Hà Nội.
Một hôm, ông Lương đứng xếp lại những lọ thuốc đặt trên cái kệ dài đóng vào vách. Tủ thuốc bắc của ông so với những ông thầy thuốc khác thì thuộc loại nghèo, thiếu rất nhiều thứ. Lâu lâu ông lại phải kiểm tra để nếu cần thì đổ ra phơi vì sợ ẩm mốc. Ông vừa mở hủ táo tàu, bốc một nắm đưa ra chỗ sáng thì tình cờ trông qua cửa sổ, thấy Hậu ngồi đọc sách dưới gốc cây bưởi đầu nhà. Ông sửng sốt quăng nắm táo vào lọ và chạy lao ra. Ông giằng cuốn sách và gay gắt hỏi:
– Mày học chữ quốc ngữ từ bao giờ? Ai cho phép mày học? Quân nầy láo!
Hậu đã chuẩn bị sẳn sẽ có ngày hôm nay nên đứng dậy khoanh tay đáp:
– Thưa bố. Con học từ hai năm nay. Anh Tân dạy chúng con. Cả hai chị em chúng con cùng học!
Mặt ông tái mét, cằm bạnh ra, hai mắt đỏ ngầu tức tối. Ông cúi xuống, lật trang bìa, nhìn cái tựa “Quận hẻo” thì lòng bớt giận phần nào, bởi đó chính là sách của Nam Đồng Thư Xã. Ông hỏi:
– ở đâu ra những thứ nầy?
Hậu đáp:
– Sách cũ của anh Tân, đem về cho chúng con mượn.
Ông Lương không nói gì, trả lại cuốn sách cho Hậu. Khi quay đi, ông dặn:
– Công, dung, ngôn, hạnh là chính! Học ăn học nói, mai kia về nhà chồng người ta khỏi khinh! Con gai học chữ, con gái học nết, nghe chửa?
Ông nói như thế là vì tự thâm sâu, ông không thấy con gái biết đọc biết viết thì có lợi gì. Hậu mừng rỡ cúi đầu im lặng. Giả như đó là một cuốn tiểu thuyết thì Hậu sẽ lãnh ngay mấy cái tát. Nhưng loại sách nầy, ông Lương không đến nỗi chống đối nên ông tha. Hậu vội chạy ra tìm Duyên và kể lại. Cả hai cùng hết sức vui mừng vì từ nay sẽ không phải nơm nớp lo sợ ông bố bắt gặp. Tuy vậy, Hậu vẫn dặn:
– Bố không đánh tức là bằng lòng rồi! Nhưng mình vẫn phải kín đáo!
Một ngày cuối thu, sau khi đã nắm vững tinh thần của hai em, Tân đưa về một người bạn học có cái dáng rắn rỏi vả đầy nghị lực. Tân giới thiệu với cha mẹ, nói dối rằng người bạn ghé chơi để mượn Tân mấy cúôn sách. Ông Lương chỉ đáp lễ xã giao, nhưng bà Lương thì mừng thầm trong bụng. Hai cô con gái, chưa có bến nào chờ đợi. Biết đâu người bạn của Tân chẳng là con rể tương lai của bà! Bà hy vọng như thế nên vội vã thúc giục các con áo quần chỉnh tề hơn mọi khi và dặn cả hai phải hết sức giữ gìn ý tứ trước mặt người lạ. Bà nhắm hướng đó nhưng không biết hai con bà lại nhắm hướng khác, nhất là Hậu. Chờ dịp thuận tiện, nghĩa là lúc ông bà Lương đi vắng cả. Tân mới gọi hai em ra đầu nhà, đứng dưới gốc cây bưởi và long trọng giới thiệu người bạn từ Hà Nội về, Tân nói:
– Đây là anh Trần Khải, bạn học của anh. Vì anh hay nhắc đến hai cô nên anh Trần Khải muốn về gặp. Hôm nay, nhân dịp bố mẹ đi vắng, anh để anh Trần Khải nói chuyện với các cô. Anh ra cổng đứng. Nhỡ bố mẹ về bất ngờ hay có ai đến thì anh sẽ ho lên mấy tiếng làm hiệu!
Dứt lời, Tân quay nhanh đi. Hai cô thấy hồi hộp lạ thường. Hồi hộp vì trong đời chả mấy khi dám đứng nói chuyện với người con trai lạ nơi vắng vẻ như thế này. Và hồi hộp hơn nữa là vì linh cảm thấy người bạn của anh mình từ Hà Nội về đây chẳng phải đơn thuần để mượn sách hoặc vì tò mò muốn làm quen với một trong hai cô, mà vì một sứ mạng nào đó cao cả hơn nhiều. Trần Khải nhìn quanh, thấy một khúc cây khô khá lớn nằm sát bờ tường, anh chìa tay và bảo:
– Hai cô ngồi xuống cho đở mỏi chân!
Vừa nói, anh vừa tiến lại trước. Hai chị em dè dặt bước theo. Hậu bấm vai Duyên, Duyên đưa mắt nhìn Hậu. Cả hai thấy không tiện ngồi vì tất cả đều mặc váy lơ lững tới bắp chân mà dĩ nhiên bên trong cái váy không có gì khác nữa. Làng Hải Ninh, hay đúng ra là gần như cả nông thôn miền Bắc ngày ấy, đàn bà con gái đều mặc váy, đi chân đất, ngoại trừ ở các thành phố lớn đang dần dần thay đổi. Một số phụ nữ tân tiên chuyển sang mặc quần và quấn tóc trền, nghĩa là dám giã từ cái khăn đen truyền thống. Váy thời ấy may bằng vải thô, loại ba hào một chục vuông, mua về nhuộm củ nâu trứơc rồi dìm xuống bùn cho biến thành màu đen, nhưng là loại đen mốc, mới mặc lần đầu trông như đã cũ rồi. Loại nầy các bà các cô mặc quanh năm, ờ nhà hoặc đi lao động. Chỉ có ngày Tết hoặc hội hè đình đám mới thay váy lĩnh cho hợp yếm đào và áo cánh trắng hoặc mầu sặc sỡ.
Thấy hai cô đứng yên, Trần Khải ngồi xuống trước. Hai cô nhìn nhau rồi khép nép ngồi sát vào nhau, xa hẳn Trần Khải đến một thước. Trần Khải moi trong túi áo gói thuốc Mélia jaune, loại thuốc lá bình dân của Pháp đang trở nên rất thịnh hành ở Việt Nam lúc ấy.
Trần Khải cẩn thận nhìn quanh khu vườn như sợ có ai rình rập. Rồi anh hắng giọng và nhập đề bằng vài câu khen ngợi tinh thần ái quốc của hai chị em, trước khi trình bài về tình hình đất nước. Nói chung thì những điều này, Tân đã nói nhiều rồi, Trần Khải chỉ lập lại một cách vắn tắt mà thôi. Rồi Trần Khải điểm qua các tổ chức chống Pháp từ Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, các cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, Yên Bái, Bãi Sậy, phân tích tại sao những tổ chức đó đều thất bại. Từ đó, Trần Khải dẫn vào Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội do Nguyễn Aí Quốc lãnh đạo, là tổ chức yêu nước, có kế hoạch đánh đuổi thực dân Pháp, sẽ đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
Trong khi phân tách tình hình và nhắc qua đến các đòan thể đấu tranh chống Pháp, Trần Khải đã cố tình không đề cập đến một đảng cách mạng đang bộc phát như sóng cuộn lúc ấy là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1928 có thể nói là giai đoạn vàng son nhất của Quốc Dân Đảng, hiểu theo nghĩa có sức hấp dẫn mãnh liệt quần chúng. Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội vẫn tung cán bộ hoạt động tích cực, nhưng toàn miền Bắc gần như bị lu mờ vì Quốc Dân Đảng, cũng như ở miền Nam, Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội bị khựng lại vì sức hút của đạo Cao Đài mới được khai sinh năm 1926.
Trần Khải là một đảng viên được học tập, được huấn luyện và trang bị đầy đủ kiến thức về cách mạng vô sản, đi theo đường lối đệ tam quốc tế, hướng về Liên Bang Xô Viết vĩ đại. Nhưng trong giai đọan này, Trần Khải không dại gì mà thuyết giảng về những điều phứt tạp đó. Chủ yếu chỉ là khai thác nhiệt tình yêu nước của những người trẻ tuổi bồng bột như Hậu và Duyên mà thôi. Chính lãnh tụ Nguyễn ái Quốc của Trần Khải, năm 1925 khi thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội tại Quãng Châu, đã khẳng định rằng, chưa thể tuyên truyền chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam được, bởi lý do không ai hiểu Cộng sản là gì cả! Hai năm sau, tại Mạc tư Khoa, Nguyễn ái Quốc còn nhắc lại nhận định ấy. Chẳng hạn, theo học thuyết Mác-xít thì hai tiếng “vô sản” có nghĩa là giai cấp công nhân làm việc trong các nhà máy, nhưng không chiếm hữu tư liệu sản xuất, cho nên luôn bị chủ nhân bốc lột. Chính giai cấp công nhân, tức những người vô sản đó, sẽ đứng lên làm cách mạng.
Đưa vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam thì giới vô sản còn quá ít, gần như không có thì đúng hơn, vì làm gì có nhà máy! Tuyệt đại đa số quần chúng chỉ là bần cố nông mà thôi. Như vậy thì lực lượng cách mạng vô sản, hiểu theo nghĩa Marx và Lénine, kể như không có tại Việt Nam. Cách tuyên truyền hay nhất lúc này chỉ là đem kẻ thù thực dân Pháp ra làm mục tiêu để huy động quần chúng mà thôi. Rồi từ đó sẽ lái họ vào con đường đệ tam quốc tế.
Những người như Hậu và Duyên, có thể nói là đại diện cho cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đầu thế kỷ 20, đang sôi sục căm thù Pháp, nên tổ chức nào kêu gọi là sẳn sàng tham gia ngay, không cần biết gì về lý thuyết hay chủ trương của tổ chức đó.
Trần Khải kết luận:
– Hai cô là những phụ nữ đầu tiên ở làng này giác ngộ cách mệnh. Rồi đây, Hải Ninh sẽ hãnh diện có hai cô là lá cờ đầu đi tiên phong để mở đường cho chị em phụ nữ!
Hậu và Duyên ngượng ngùng cúi xuống, mặc dầu trong lòng rất hãnh diện vì tin rằng mình sẽ nối gót những bậc anh thư như Trưng, Triệu. Trần Khải động viên hai cô bằng cách nhắc đến phong trào đấu tranh của công nhân đồn điền cao su trong Nam, đang trên đà thắng lợi. Anh kể tên một số phụ nữ ở trong đó, đã nêu cao tấm gương can đảm, ngang nhiên chống lại sự áp bức của cai phu, dù bị đàn áp dã man. Những cái tên rất lạ, chẳng biết có thật hay không, nhưng cũng làm Hậu và Duyên nức lòng ngưỡng phục.
Chuyện mộ phu cho các đồn điền Nam Kỳ cũng như Cao Miên hoặc các thuộc địa Pháp ở nơi xa xăm như Nouvelle Calédonie, Hậu và Duyên đã nghe dân bàn tán nhiều và Tân cũng có một lần nói qua với các em. Chẳng những chỉ nghe nói, hai cô còn biết rõ một số người ở Hải Ninh đã đăng ký ra đi. Đó là một chính sách lớn của thực dân Pháp nhằm mua công nhân bản xứ với giá rẻ mạt để sống trong những điều kiện lao động cực kỳ vất vả. Dù bao nhiêu tin đồn bất lợi, mà Pháp vẫn thành công trong việc mộ phu là bởi vì đời sống của người dân Việt lúc ấy, nhất là ở nông thôn miền Bắc, quá nghèo đói và bất công, đến nỗi người ta sẳn sàng chấp nhận tha phương cầu thực. Người Việt Nam vốn có truyền thống sống bám lấy mảnh đất quê hương, khó lòng rời xa mồ mả tổ tiên, thế mà nay đành phải giã từ là bởi vì ở lại thì có khi cả nhà cùng chết đói. Những nhân viên mộ phu nổi tiếng như René Bazin, chỉ riêng năm 1927, một mình gã đã tuyển được tới 18.000 dân phu ở miền Bắc để cung cấp cho các công trường, đặc biệt là đồn điền Dầu Tiếng của công ty Michelin. René Bazin cũng như những tên mộ phu khác, ăn tiền huê hồng từ mười đến hai mươi đồng trên mỗi đầu người tuyển được, cho nên họ hết sức sốt sắng và dùng đủ mọi thủ đoạn để lôi kéo càng đông người ghi danh thì càng tốt. Nên nhớ hai mươi đồng là một số tiền rất lớn, bởi một suất thuế thân hàng năm chỉ có hai đồng rưỡi mà nhiều người chạy không nổi, đành chấp nhận bị trói, bị đánh và vào tù ngồi! Những bản thông cáo mộ phu dán khắp nơi, có những điều khoản thật hấp dẫn mà người đang đói khó có thể cưỡng lại. Chẳng hạn chỗ ăn, chỗ ở, áo quần, thuốc men đều miễn phí, lại còn được trả lương từng ngày. Chỉ cần bấy nhiêu thôi, người ta đã ùn ùn kéo nhau đi. Đi để thoát bước đường cùng hiện tại, sống cũng như chết! Rồi khi vào đến đồn điền ấy, giấy tờ tùy thân bị tịch thu hết, đời sống nơi rừng thiêng nước độc ngập tràn muỗi sốt rét và nhất là điều kiện lao động bị đàn áp dã man, lúc ấy mới biết cái khổ thì đã muộn rồi, không trốn đi đâu được.
Cuộc sống đồn điền nói chung, khắc nghiệt quá đến độ chính những nhà văn, nhà báo người Pháp phải lên tiếng tố cáo mạnh mẽ. Nhờ vậy, ngày 25 tháng 10 năm 1927, toàn quyền Varenne đã phải ký nghị định qui định công nhân đồn điền chỉ phải lao động một ngày 10 tiếng và mỗi tuần được nghỉ một ngày. Trước đó thì họ hoàn toàn sống cuộc đời nô lệ, tính mạng nằm trong bàn tay vô nhân đạo của chủ và cai. Năm 1926, có gần đến năm ngàn mộ phu liều mạng trốn khỏi đồn điền, vì không chịu đựng nổi đời sống nông trường. Những người đào tẩu này chấp nhận những hậu quả khủng khiếp sẽ xảy đến nếu bị bắt vì giấy tờ tùy thân không còn nữa.
Chính vì những phẩn uất thường trực của công nhân, đồn điền cao su đã là mãnh đất mầu mỡ để Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội gài người vào tuyên truyền ngay từ những đợt đầu. Những tổ đảng lan ra rất nhanh vì bản chất công nhân đồn điền vốn đã mang tính vô sản, lại cùng bị bốc lột dã man như nhau. Trần Khải kể:
– ở đồn điền cao su Dầu Tiếng, người của ta là chị Nguyễn thị Kim đã lãnh đạo anh chị em công nhân, chống lại cai thợ. Chị Kim năm nay mới 22 mà kiên quyết đấu tranh đến cùng. Bước đầu, chị ra sức vận động công nhân đình công. Chúng cho cai thợ tay sai ra đánh đập. Chị Kim liền tự nguyện tuyệt thực. Chị tuyệt thực đúng một tuần thì chúng phải nhượng bộ! Ngày thứ ba thì chị đã ngất đi, phải đưa vào nhà thương cấp cứu!
Duyên ghé tai hỏi Hậu:
– Tuyệt thực là gì hở chị?
Trần Khải đáp thay Hậu:
– Tuyệt thực là tự mình nhịn ăn để phản đối một điều gì bất công!
Duyên gật đầu nhưng trong lòng không tán thành phương thức này vì cô có tính mau đói. Nhịn một bửa đã khổ lắm rồi, huống chị nhịn cả tuần!
Cuối cùng, Trần Khải hỏi:
– Bấy giờ có ai gọi hai cô đi làm cách mệnh, hai cô có dám đi không?
Nói chuyện với Tân thì Hậu bạo mồm lắm. Nhưng gặp người lạ, cô lại quy về với bản năng rụt rè cố hữu của phụ nữ. Cô phân vân suy nghĩ rồi hỏi lại:
– Chúng em muốn lắm chứ! Nhưng chúng em cả đời chỉ biết làm ruộng. Buông cái cuốc cái liềm ra thì có biết gì nữa đâu mà làm cách mệnh?
Trần Khải từ tốn đáp:
– Ai cũng làm cách mệnh được! Mỗi người một chỗ đứng, một công tác. Chỉ cần quyết tâm thôi!
Duyên cười:
– Cách mệnh có cần người nấu cơm thì chúng em xin xung phong!
Trần Khải cũng cười theo và xòe bàn tay:
– Chẳng hạn như thế. Đấy cũng là một công tác, một nhiệm vụ cách mệnh!
Rồi hắn nghiêm mặt nói thêm:
– Hai cô phải suy nghĩ cho thật kỹ. Làm cách mệnh cực khổ lắm. Tây nó mà bắt được là nó tra tấn, đày ra Côn Lôn, có khi còn bị chém đầu nữa!
Hậu nắm chặt bàn tay, nói cứng:
– Em không sợ! Anh cứ giao công tác đi. Em nhận ngay!
Trần Khải gật đầu rồi tiến xa hơn:
– Nhiệm vụ cách mệnh có khi đòi hỏi phải thoát ly. Nếu tổ chức cần, hai cô có dám thoát ly hay không?
Hậu lại đáp ngay:
– Em sẳn sàng!
Duyên bấu vào vai chị và hỏi nhỏ:
– Thoát ly là thế nào hở chị?
Trần Khải đáp:
– Thoát ly là bỏ cha mẹ, bỏ hết anh em họ hàng. Khi tổ chức giao công tác, không được giao cho ai hết. Khi nào hoàn thành công tác, tổ chức cho phép, thì bấy giờ mới trở lại với gia đình! Hai cô có làm được không?
Hậu và Duyên cùng đáp:
– Chúng em làm được! Anh cứ giao công tác đi!
Trần Khải hài lòng gật đầu. Tuy chỉ mới gặp thoáng hai cô có một lúc mà anh đã nhận ra ngay cô chị là Hậu lúc nào cũng hăng hái hơn, mặc dù so với Duyên thì Hậu có thân hình mảnh khảnh, gầy hơn cả Duyên lẫn Hoàn. Trần Khải chậm rãi giảng:
– Các cô có tinh thần cao, nhưng cần kiên nhẫn, không thể nóng nảy được. Phải kiên nhẫn và phải kín đáo. Một mình mình đánh Tây, không đánh nổi nó đâu. Phải mọi người cùng đánh, cả nước cùng đánh mới được. Cho nên trước tiên cần phải tổ chức quần chúng, mà muốn tổ chức quần chúng thì phải giáo dục quần chúng cho họ hiểu. Chẳng hạn nếu không nhờ anh Tân giáo dục thì chính bản thân hai cô cũng vẫn bằng lòng với cuộc sống đầy bất công và áp bức, chứ làm gì có tinh thần cách mệnh như bây giờ!
Rồi Trần Khải gợi ý hai cô nên xây dựng một tổ học nghề cho phụ nữ trong làng. Chẳng hạn mở lớp dạy đan thêu và may quần áo đàn bà. Lúc này phong trào mỹ nghệ đang lên cao, các cô gái quê rất ưa thích những kiểu quần áo lạ mắt mang tính thị thành. Trần Khải bảo Hậu:
– Cô nên nói khéo với hai bác, nhất là mẹ cô. Nhà này cũng rộng rãi, có thể lấy một buồng làm lớp học. Ta qui tụ chị em phụ nữ cho đông đảo, trước dạy nghề, sau dạy chữ. Rồi từng bước mở rộng, dạy chữ quốc ngữ cho cả dân làng, ai cũng cần biết đọc biết viết. Dân ta mù chữ thì thằng Tây dễ cai trị mà bọn cường hào ác bá cũng dễ bốc lột. Nếu nâng dân trí lên cao, rất khó có ai bắt nạt được! Vả lại, người ta có đọc được, thì chúng ta mới chuyển tài liệu cho họ để từ từ giáo dục họ về lý tưởng cách mệnh!
Chưa gì Hậu và Duyên đã thấy khó khăn rồi bởi cả hai chưa hiểu rõ cách bố trí của Trần Khải, hay nói đúng hơn là của Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội, tiền thân của Đảng Cộng Sản Đông Dương sau này. Họ luôn luôn len lỏi vào giới bình dân, ít học, nghèo đói và bị áp bức, xây dựng từng nhóm nhỏ dưới danh nghĩa tốt đẹp như hôi tương tế, nghiệp đoàn thợ thuyền, lớp dạy nghề.v.v. Hãy cứ gom người lại đã, rồi từ từ tuyên truyền cách mệnh. Chủ trương ấy quả thật đã gặt hái được nhiều thành công ở những quốc gia nhược tiểu. Đảng Công sản Pháp thành lập đã lâu nhưng đảng này không bao giờ nắm được chính quyền bởi lẽ xã hội pháp có tự do dân chủ. Ngược lại ở những xã hội chậm tiến, cộng sản rất dễ thắng thế, không phải vì họ có tài lôi kéo quần chúng mà vì chính quần chúng đã chán ngấy hoặc đang căm phẫn những bất công mà họ phải chịu đựng hàng ngày. Đó là cái tình thế mà CS biết lợi dụng để đạt thắng lợi. Lớp cắt may mà Trần Khải đề nghị với chị em Hậu, chính là cái nôi đầu tiên mà hắn muốn thiết lập ở làng này để thu hút phụ nữ. Trần Khải cũng nói qua về đấu tranh giai cấp, nhưng quan điểm của anh, hay đúng hơn là quan niệm của Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội (VNTNCMĐCH) lúc bấy giờ chưa để lộ tính sắt máu và tàn ác với người giàu như sau này, khi đảng Cộng sản Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề phong trào cải cách ruộng đất của Mao Trạch Đông sau năm 1949. Nói chung, Cộng sản rất khôn khéo trong giai đoạn đấu tranh, nhưng sẽ lộ bộ mặt cực đoan khi đã nắm chính quyền, vì nhìn đâu cũng thấy kẻ thù!
Hậu quay sang nói nhỏ với em một câu rồi ưu tư bảo Trần Khải:
– Chị em chúng em có đứa nào biết đan biết may gì đâu! Quanh năm chỉ cầm liềm cầm cuốc! Mình còn không biết, dạy ai bây giờ?
Trần Khải vội trấn an:
– Ta thuê người chứ! Hai cô chỉ đứng ra thôi. Tôi sẽ gửi về cho cô một người thợ giỏi. Giỏi lắm! Chị ấy từng mở lớp đan thiêu và may vá ở Hà Nội! Hai cô cứ xin phép hai bác đi. Hễ hai bác đồng ý thì anh Tân sẽ đưa người về!
Cả hai chị em hiểu ra, hết sức cảm phục sự chu đáo của Trần Khải. Trần Khải kết luận:
– Trước mắt cứ như thế đã nhé! Sáng mai, anh Tân với tôi về lại Hà nội. Tiện đây, tôi xin chào các cô, hẹn gặp lại dịp khác. Có thế nào thì các cô liên lạc ngay cho chúng tôi biết.
Duyên hỏi:
– Chúng em liên lạc với anh bằng cách nào?
Trần Khải châm điếu thuốc mới. Cái bật lửa nhôm cũ kỹ của anh, đốt bằng dầu hôi, mỗi lần hút thuốc phải bật cả chục lần ở chỗ không có gió thì mới hy vọng cháy. Anh nhả khói rồi đáp:
– Các cô biết rồi mà. Anh Tân sẽ cho các cô biệt địa chỉ nhà trọ của chúng tôi ở Hà Nội … Thôi, chào hai cô!
Dứt lời, Trần Khải đứng dậy đi nhanh ra cỗng gặp Tân. Thái độ của anh dứt khoát lắm, không vướng bận một chút tình cảm riêng tư nào. Duyên không nói ra nhưng trong lòng rất cảm phục, vì rõ ràngTrần Khải từ hôm về đây, chả để ý gì đến hai chị em cô. Bất giác cô lại nhớ đến Minh và tự hỏi chẳng biết Minh bị giam ở đâu? Trước kia, khi nghe Minh bị đuổi học vì phát truyền đơn chống Pháp, Duyên dửng dưng vì cho là dại. Bây giờ dấn thân vào đường cách mạng rồi, Duyên mới thấy Minh là một người dũng cảm.
Hôm sau, Trần Khải và Tân đi rồi, hai chị em xuống bếp bàn riêng với mẹ về ý định mở lớp đan thêu. Bà Lương mới nghe qua đã mắng:
– Chúng mày rồ hay sao đấy? Vá cái quần rách còn chưa xong, đòi mở lớp dạy người ta may vá!
Hậu cặn kẽ trình bày:
– Anh Tân với anh Trần Khải khuyên chúng con mở lớp chớ không phải chúng con tự nghĩ ra được đâu mẹ à. Các anh ấy là người học rộng hiểu nhiều, biết nhìn xa, nên mới bảo chúng con như thế!
Bà Lương vốn nể con trai lớn, nhất là lại có Trần Khải cùng đồng ý nên bà dịu ngay cơn giận và hỏi lại:
– Thằng Tân nó bảo chúng mày như thế à?
Hậu đáp:
– Vâng! Anh Tân với anh Trần Khải đều bảo “Càng ngày người ta càng thích mỹ nghệ. Chả nhẽ cả đời hai cô cứ chân lấm tay bùn mãi hay sao?”.
Bà Lương hài lòng với nhận xét của Trần Khải, tuy vẫn thắc mắc:
– Nhưng chúng mày học nghề đến bao giờ cho thạo để đủ sức dạy người khác?
Hậu đưa mắt nhìn em, chia sẻ niềm vui vì bà Lương hỏi thế tức là bà đã xiêu lòng chấp thuận rồi. Hậu đáp:
– Chúng con mà dạy ai! Mình chỉ mở lớp rồi thuê thợ giỏi về dạy! Mình trông nom trả lương thợ, phần còn lại là của mình! Anh Trần Khải sẽ giới thiệu thợ tận Hà Nội về giúp chúng con
Nghe nhắc đến Trần Khải, bà Lương buông xuôi. Thôi thì biết đâu đây chẳng là nhịp cầu để các con bà gặp gỡ người chồng tương lai. Con trai bà nay mai ăn học thành tài, quen biết nhiều người trong giới học thức. Hai đứa em gái của nó cũng cần vươn lên, thoát khỏi cảnh bùn lầy nước đọng. Bà từng nhắm hai thằng thanh niên cho hai đứa con bà thì nhất thời đều hỏng cả. Thằng Tuất đi lấy vợ bên kia sông, thằng Minh thì vào tù! Biết đâu Trần Khải chả là người điền khuyết cho một trong hai thằng kia? Bà bảo:
– Để tao nói qua với bố xem ý bố như thế nào?
Hậu và Duyên cùng níu cánh tay của mẹ:
– Mẹ nhớ nói khéo hộ chúng con!
Bà Lương quay đi, lên nhà trên để lựa lời nói với chồng. Hậu chạy theo nài nì thêm:
– Nếu bố bằng lòng thì mẹ phải cấp vốn cho chúng con đấy mẹ nhé! Hai chị em chúng con dốc hết hầu bao cũng chỉ được có mấy hào! Con tính rồi. Vải vóc, kim chỉ, que đan, rồi phải đóng bàn để cắt quần áo. Đóng ghế cho học trò ngồi. Chắc cũng phải bỏ ra món tiền nhớn!
Bà Lương im lặng bước đi, không nói gì. Hai cô hồi hộp trông theo, lòng mừng khắp khởi.
Một tháng sau thì lớp dạy cắt may thành hình đúng như dự tính. Giá như không có tiếng nói của Tân thì khó lòng mà ông bà chấp nhận cuộc cách mạng táo bạo này. Nhà này, muôn đời nghề nông vẫn là truyền thống, có đâu lại đổi một khúc rẽ bất ngờ như vậy! Chỉ nhờ Trần Khải và Tân thuyết phục, bà Lương mới bằng lòng xuất vốn ra cho hai cô con gái mà bà đang nóng ruột gả chồng. Trần Khải gửi về một cô giáo nữ công ăn ở ngay tại nhà Hậu. Cô tên là Thúy, tuổi gần 40, góa chồng đã cả mười năm, được tổ chức kết nạp để lo công tác vận động phụ nữ. Hậu và Duyên thay nhau đi mời gọi bạn bè, rồi nhờ bạn bè níu kéo thêm người quen, tập trung đến lớp học. Những nhà nghèo quá thì Hậu lấy nửa tiền học phí hoặc có khi miễn phí hẳn cho họ theo lời khuyên của Trần Khải. Cái mục đích sâu xa của Trần Khải và Tân là tập họp được càng đông càng tốt. Tiếng đồng vang ra ở Hải Ninh, chị em phụ nữ kéo đến mỗi ngày một nhiều hơn. Trước học nghề, sau học chữ. Phần lớn các cô ban ngày phải đi làm ruộng hoặc những công việc thường lệ khác như trồng rau, nuôi lợn, cắt cỏ, dệt vải. Chỉ tối đến mới gặp nhau tại nhà Hậu.
Buổi đầu, Hậu và Duyên dạy chữ. Dần dần chính các học viên dạy cho nhau hoặc khi các cô ngồi may vá đan thêu thì một người đọc sách cho cả lớp nghe chung. Hậu và Duyên gần giống như hiệu trưởng và giám thị mà thôi!
Chỉ một thời gian ngắn, hai chị em Hậu được dân làng Hải Ninh âu yếm gọi là những cô giáo tiền phong chống nạn mù chữ. Ông Lương lúc đầu chẳng để ý, về sau cứ chấp tay sau đít, đi tới đi lui ngoài hiên và gật gù mỉm cười một mình. Ông cười khẩy, chua chát bảo vợ:
– Đúng là thời thế đảo điên, bà nhỉ! Tôi học chữ Nho từ thuở lên bốn, thắm thoát mấy mươi năm giời. Thế mà tôi mở trường dạy học thì chỉ lèo tèo có vài đứa. Còn hai đứa chúng nó, cái Hậu với cái Duyên, chỉ vừa biết đọc biết viết, mà học trò kéo đến đông như kiến, không đủ chỗ ngồi!
Bà Lương thông cảm với nỗi đắng cay của chồng nên đáp cho qua chuyện:
– Thì tại vì vua xuống chiếu bãi bỏ chữ Nho, cho nên người ta phải học chữ quốc ngữ! Thời bây giờ, đơn từ văn tự đều bằng chữ quốc ngữ. Không học thì đàng nào mà mò!
Phải nói rằng, lúc đầu ông Lương chỉ vì chiều vợ mà cho hai đứa con mở lớp cắt may. Nhưng dần dà khi thấy hai con dạy chữ quốc ngữ được dân làng nể phục thì chính ông lại rất hãnh diện. Hôm đi dự tiệc cưới của đứa cháu họ, ông tình cờ nghe các bà bảo nhau ở bàn bên cạnh:
– Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh! Cái Hậu với cái Duyên nhà ông giáo Lương, chả biết học hành vào lúc nào mà bây giờ giỏi quá, dạy cho bao nhiêu người, xứng đáng nối nghiệp bố!
Lời nhận xét ấy làm ông rất hả dạ. Nhưng theo truyền thống của người Việt, ông không bao giờ khen các con, vì sợ chúng sẽ trở nên kêu ngạo!
Tân có dẫn Trần Khải về chơi tham quan một lần và cả hai cô cùng phấn khởi vì thành quả vượt cả sự dự kiến lúc ban đầu. Tuy vậy, Trần Khải vẫn căn dặn Hậu và Duyên phải cảnh giác, trong lớp tuyệt đối chưa cần đả động gì đến chuyện chống Pháp. Theo kinh nghiệm của Trần Khải thì cách tuyên truyền tuy xa xôi nhưng hữu hiệu, bao giờ cũng là nội dung chứa đựng trong những bài học tập mà thôi. Ây vậy mà lý trưởng Hải Ninh cũng thân hành tìm đến và lôu Hậu ra cật vấn. Hôm ấy, ông Lương đem theo Hoàn đi bắt mạch cho bệnh nhân ở làng bên cạnh. Bà Lương đi chợ huyện. ở nhà chỉ có hai chị em. Lý trưởng cầm gậy, gọi Hậu và Duyên ra, gay gắt hỏi:
– Chúng mày làm trò gì thế này? Định làm loạn phải không?
Hậu cứng rắn đáp:
– Ô hay, sao cụ lý lại nói thế? Chúng cháu học may vá chứ có làm gì đâu?
Lý trưởng tuổi ngoài bốn mươi, nhưng cả làng đều quen gọi là cụ. Ông nhìn vào lớp học, bắt gặp nhiều khuôn mặt quen trong làng. Ông hỏi:
– Học may vá sao lại có cả sách báo là thế nào?
Hậu bình tỉnh đáp:
– Bẩm cụ lý. Chủ yếu là học may. Nhưng ai thích học chữ thì chúng cháu dạy luôn thể ạ!
Ông nhìn quanh khắp nhà và hỏi tiếp:
– Bố mẹ mày đâu?
Duyên đáp:
– Bẩm, bố mẹ cháu đi vắng chiều mới về ạ!
Ông giơ cây gậy, dứ dứ vào mặt Hậu và dọa:
– Ai cho chúng mày mở lớp học mà không xin phép? Tao nể ông giáo tao ngơ cho chị em chúng mày. Nhưng liệu hồn đấy! Học may thì cứ học may, tao không cấm, miễn là đừng có léng phéng chuyện quốc sự. Hội kín bây giờ đang nổi lên khắp nơi! Chớ có giở trò gì để tao phải ra tay! Phép nước không vị tình thân! Tao báo trước, mai kia có gì đừng trách tao!
Chị em Hậu cúi đầu vâng dạ cho qua chuyện. Ông lý khệnh khạng bước xuống sân và ra cổng. Cả lớp hồi hộp trông theo cho đến khi bóng ông khuất hẳn sau bụi tre. Ngay hôm sau, lý trưởng cho con gái đến ghi danh theo học. Hậu biết đó là âm mưu cài nội tuyến của ông, nhưng vẫn niềm nở mời cô gái vào. Hậu bảo Duyên:
– Có mặt nó càng tốt! Mình sẽ được tiếng là ngay cả cụ lý cũng cho con đến học! Từ từ rồi chị em mình sẽ vận động nó theo chúng mình!
Lý trưởng vừa ra khỏi cổng thì bà Lương ở chợ về. Bà buông cái thúng đựng vài thứ lặt vặt trên thềm, đi nhanh lại căn buồng đầu nhà, bây giờ đã biến thành lớp may vá của hai con. Hậu và Duyên đang theo dõi học viên tập viết thì bà Lương giơ tay vẫy Duyên ra hè. Hậu cũng chạy theo em, ra hẳn đầu nhà với mẹ. Bà Lương bảo Duyên:
– Lúc nãy ở ngoài chợ mẹ gặp bác Truyền gái. Bác ấy bảo riêng với mẹ là thằng Minh nó được thả rồi!
Duyên tròn mắt kêu lên một cách vui mừng:
– Anh Minh được thả rồi! Bác Truyền chắc mừng lắm!
Bà Lương kể:
– Dạo ấy nó bị bắt vì tội rải truyền đơn. Nhưng may cho nó là có ông nhà báo nào đấy, người Pháp, đứng ra đỡ đầu, làm giấy bảo đảm cho nó. Vì thế nó chỉ phải tù có mấy tháng rồi được thả về. Chả là nó cũng viết báo, nên mới quen được ông tây này!
Duyên hỏi bâng quơ:
– Thế bây giờ anh ấy ở đâu hở mẹ?
– Bác Truyền bảo với mẹ là tuy được thả, nhưng nó không về làng. Nó ở lại lụon dưới Hà Nội rồi nhắn bác Truyền xuống cho nó gặp. Bây giờ nó viết cả báo tiếng Tây. Giỏi thật!
Lời nhận xét của bà Lương làm Duyên nhớ lại có lần cô cũng đã nghe Tân khen ngợi Minh về nhiều điểm. Tân bảo:
– Minh nó gan dạ lắm! Gan dạ nhưng không đến mức liều lĩnh. Gan dạ thì cũng đáng khen, chứ liều lĩnh thì chẳng những làm hại mình mà lắm khi liên lụy đến cả người khác!
Duyên tò mò:
– Thế Minh có hoạt động chung với anh em mình không?
Tân cẩn trọng đáp:
– Hiện nay thì chưa. Nhưng anh vẫn có ý ấy. Chỉ chưa có dịp gặp nhau lâu để ngỏ ý. Tiếng là cùng học ở Hà Nội, nhưng khác trường, ít khi gặp nhau! Nhất là gần đây, Minh bị đuổi học, anh cũng chả biết nó ở đâu mà tìm!
Nghe Tân nhắc đến Minh với lòng quí mến, tự dưng Duyên càng thấy cảm phục hơn và cô dự định, nếu có dịp Minh về làng và ghé thăm thầy Lương như thông lệ, thì chính Duyên sẽ mạnh dạn khơi chuyện và rủ Minh gia nhập Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội.
Chị em Hậu ngồi trong nhà mát, nhả nắng rất mau, chỉ vài tháng da dẻ trắng hông, ai cũng tấm tắc khen. Nhưng lớp học chỉ kéo dài được hơn nữa năm thì giải tán. Lúc nầy, tổ chức VNTNCMĐCH đã phát triển mạnh ở nhiều nơi, cơ sở hạ tầng đã đông và đoàn viên đã cũng khá nhiều. Những người như Hậu và Duyên hoàn toàn chỉ vì lòng yêu nước mà dấn thân chứ không biết gì về con đường vô sản mà tổ chức này vẫn cố tình giấu mặt.
VNTNCMĐCH được Nguyễn ái Quốc thành lập tại Quảng châu năm 1925 do chỉ thị của đệ tam quốc tế, nhắm vào thành phần các kiều dân lưu lạc tại đây. Họ sẽ được Liên Bang Xô Viết huấn luyện về phá hoại, rồi gửi về nước để gây khó khăn cho chính phủ Pháp. Như vậy, tự căn bản, VNTNCMĐCH đã mang tính quốc tế chứ không phải một tổ chức thuần túy của dân Việt. Tuy nhiên, vì khéo che đậy và giỏi khai thác lòng phẩn uất của quần chúng với thực dân và quan lại, tổ chức này đã thu hút khá đông đảng viên nhiệt tình, chẳng hạn như Tân và hai chị em Duyên, Hậu.
Chỉ có điều oái oăm và mỉa mai là, trong khi Tân cuồng nhiệt hô hào đánh Tây, kêu gọi hai chị em đứng vào hàng ngũ VNTNCMĐCH để chống Pháp, thì chính anh lại không biết lãnh tụ của anh là Nguyễn ái Quốc đã bán đứng cho Pháp cái người mà Tân hằng ngưỡng phục vì kiên trì chống Pháp không mệt mõi, đó là cụ Phan Bội Châu năm ngoái ở Thượng Hải. Cụ Phan tin Nguyễn ái Quốc cũng là người yêu nước, mang cùng lý tưởng chống ngoại xâm, nên đã đến gặp Nguyễn ái Quốc ở một địa điểm thuộc tô giới của Pháp. Nguyễn ái Quốc báo trước cho mật thám Pháp. Cụ Phan sa lưới, Nguyễn ái Quốc vừa loại một đối thủ, vừa được Pháp cho một số tiền khá lớn. (Đụ má thằng cáo già Hồ chí Minh “Tám Hà đánh máy tới đây thấy HCM tư cách không đáng một con chó ghẻ nên bực mình chửi đổng …..Sorry!!”). Mà chẳng phải riêng cụ Phan, biết bao nhiêu chiến sĩ quốc gia, đặc biệt là đảng viên Quang Phục Hội, đều bị Nguyễn ái Quốc và Lâm đức Thụ bán cho mật thám Pháp, trừ những ai chấp nhận bỏ đảng của mình để gia nhập vào đảng của Nguyễn ái Quốc. Hành vi gian xảo của lãnh tụ VNTNCMĐCH, những đoàn viên như Tân, như Hậu không thể nào biết được. Thành ra cái nhiệt tình tuổi trẻ đã bị lợi dụng và lèo lái theo con đường bất chính ngay từ thuở ban đầu!
Lịch sử là một sân khấu bao la, trên đó hàng hàng lớp lớp diễn viên nối tiếp xuất hiện. Có những người thênh thang bước lên sân khấu chính trị một cách dễ dàng, để đón nhận mọi thứ hào quang dành cho một lãnh tụ may mắn.
Có những người cả một đời gian khổ đấu tranh vẫn không tới đích, đành âm thầm ôm mối hận gục ngã giữa đường. Loại người này thì thời nào cũng đông vô kể, chính phái cũng như tà phái. Lại có những người nhờ hoàn cảnh đưa đẩy mà trở thành khuôn mặt vĩ đại, được phe nhóm của mình ca ngợi cả về đạo đức cũng như tài năng. Nguyễn ái Quốc là một trong những người ấy.. Nhìn vào thời niên thíêu của ông thì có thể nói ông là kẻ cơ hội chủ nghĩa, thời thế tạo anh hùng, hoặc lạc đường … vào lịch sử!!
Nguyễn ái Quốc là con thứ ba của cụ phó bảng Nguyễn sinh Huy, nguyên quán Nghệ an, làm tri huyện ở Bình Định. Thuở nhỏ Nguyễn ái Quốc có tên là Nguyễn sinh Côn hoặc Nguyễn tất Thành, đậu bằng tiểu học ở Thừa Thiên và vào học ở trường Quốc học được hai năm. Năm 1910, lúc Thành 18 tuổi thì ông huyện Huy bị cách chức vì say rượu đánh chết người, phải bỏ vào miền Nam. Thành theo cha vào SaiGon rồi xin làm bồi bếp dưới tàu thủy của Pháp. Tháng 9 năm 1911, tàu tới cảng Marseile, Thành làm đơn xin vào Ecole Coloniale tức trường Thuộc Địa của Pháp để mong tiến thân bằng đường hoạn lộ khi trở về cố hương. Thành cẩn thận lấy thêm cái tên tây là Paul Thành để dễ được trường Thuộc Địa chiếu cố. Theo thủ tục thời bấy giờ, muốn được vào trường Thuộc Địa để làm nhân viên phục vụ chính phủ Pháp sau này, thì đơn xin phải được chính phủ Đông Dương duyệt xét trước rồi mới gửi về mẫu quốc. Nguyễn tất Thành không đi qua con đường ấy nên bị bác đơn. Paul Thành tiếp tục nghề thủy thủ, ngày ngày phụ bếp trên tàu, lênh đênh nay đây mai đó
Thêm gần mười năm lêu bêu, Paul Thành có dịp gặp gở nhiều nhân vật tên tuổi trong lúc tình hình thế giới thay đổi không ngừng. Một trong những biến cố có ảnh hưởng lớn đến tâm trí Thành là việc Quốc Tế Cộng Sản thành hình ở Nga năm 1917 với chiêu bài “cách mạng vô sản”. Cũng khoảng thời gian ấy, ở Việt Nam diễn ra nhiều biến động như vua Duy Tân rời kinh đô năm 1916, Phan Xích Long nổi dậy ở Sài gòn năm 1916, cuộc khởi nghĩa của Trịnh Văn Cấn, Lương Ngọc Quyến, Trần Trung Lập, bị Pháp dẹp tan năm 1917. Rồi hàng chục ngàn thanh niên Việt Nam được Pháp mộ sang Âu châu để đánh Đức trong thế chiến thứ nhất, làm những người đang sống ở Pháp cũng phải suy nghĩ nhiều về thân phận thuộc địa!
Giữa lúc ấy, những sinh viên du học hoặc đã thành tài tại Paris nhưng vẫn nặng lòng đối với đất nước, như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, đều đứng vào hội Yêu Nước Đông Dương và ngã dần theo khuynh hướng xã hội. Nguyễn tất Thành tuổi đã trưởng thành, có cơ may gặp gỡ những khuôn mặt đấu tranh với kiến thức rộng rãi và nhiệt tình có thừa như luật sư Phan Văn Trường, để dựa vào nhóm trí thức ấy, đưa tên tuổi mình ra ánh sáng.
Vốn liếng ngoại ngữ của những người như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, cũng giúp Nguyễn tất Thành có được những bản thảo lưu loát và hùng hồn để trình làng với chính giới Pháp lúc bấy giờ. Cái tên Nguyễn ái Quốc khai sinh từ đấy, trở thành một thanh niên hội đủ những tiêu chuẩn lý tưởng của tầng lớp cách mạng vô sản. Xuất thân lao động, làm bồi trên tàu cả chục năm, lại có chữ nghĩa và lý luận vững vàng, xứng đáng để được quốc tế công sản xử dụng trong việc gieo hạt giống cách mạng sau này tại Việt Nam. Thôi thì đành vậy! Xin vào trường thuộc địa để làm công bộc cho Tây mà Tây không nhận thì bây giờ đành làm người hùng chống Tây cũng được!
Sau khi Nguyễn ái Quốc gia nhập Công Đoàn Liên Thuộc Địa do Đảng Cộng Sản Pháp lãnh đạo, tháng 6 năm 1923, ông được đưa sang huấn luyện về kỷ thuật làm cách mạng tại Mas-cơ-va. Năm sau, Nguyễn ái Quốc với cái tên mới là Lý Thụy, đi theo phái đoàn Mikhail Borodin qua Quảng châu, đóng vai thư ký kiêm thông dịch viên của đặc sứ Nga bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên. Rồi từ đó, Nguyễn ái Quốc ở lại và thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội, tiến đến Đông Dương Cộn Sản Đảng sau này.
Cái khôn của Nguyễn ái Quốc là trò chơi hư hư thực thực, thiên biến vạn hóa, đổi thay tên tuổi và lý lịch như chong chóng, khiến chẳng ai biết ông là ai. Lúc thì ông tự phao tin ông đã chết. Lúc lại tái xuất giang hồ, đến nỗi chính các cơ quan an ninh và tình báo thực dân còn bị lừa. Với sự hỗ trợ đắc lực của các đàn em thân tín, ông đã tự tạo cho ông một huyền thoại để lôi kéo biết bao người đi theo con đường của ông. Thậm chí tôn vinh ông như một thần tượng! Những thanh niên đầy nhiệt huyết như Tân và hai cô em gái làng Hải Ninh, có thể coi như đại diện cho cả một thế hệ tuổi trẻ đang bị lôi cuốn vào con đường cộng sản chỉ vì Nguyễn ái Quốc khéo khai thác khát vọng giành độc lập cho xứ sở.
Lớp học của hai chị em, lúc đầu ai cũng đoán, giỏi lắm là thu hút được trên dưới mười cô gái làng, không ngờ bốn tháng sau đã có đến hơn ba mươi người. Bàn ghế không đủ, các cô gặp đâu ngồi đấy. Trên giường, dưới đất, bật thềm, thành cửa sổ, chỗ nào sử dụng được là lấn chiếm hết. Hậu dặn đi dặn lại với mọi người là đối với bên ngoài, cái danh xưng chính thức vẫn là “tổ dạy nghề”. Việc học chữ không nên nhắc đến, mặc dù cả làng đều biết. Thời buổi này, nhà nước bảo hộ vô cùng đa nghi, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù sắp làm loạn! Cho nên việc tập trung đông đảo như thế này khó lòng mà thoát khỏi sự chú ý của mật thám.
Những cuốn sách có nội dung yêu nước, những bài báo gợi ý đấu tranh, lúc đầu Hậu và Duyên còn cho học viên truyền tay nhau xem. Về sau, hai cô cẩn thận giấu hết, chỉ trích dẫn vài đoạn sâu sắc nhất để đọc cho cả lớp viết chính tả. Từ khi Nhung, con gái lý trưởng Hải Ninh đến ghi danh vừa học may vừa học chữ, thì tài liệu học tập cũng như đề tài thảo luận lại càng bị giới hạn tới mức tối đa, bởi Hậu không thể biết được Nhung đến học thật hay làm tai mắt cho bố!
Một hôm, Tân từ Hà nội về, bảo hai em đóng cửa lớp học sau khi đã móc nối được một số cảm tình viên nòng cốt trong làng để có thể sử dụng khi cần đến. Hậu phân vân nói:
– Lớp học đang đông, tại sao lại giải tán hở anh?
Tân cắt nghĩa:
– Anh Trần Khải có bàn với anh. Anh ấy cũng tiếc lắm, nhưng thấy là không nên duy trì. Thế nào các cô cũng bị bắt. Kinh nghiệm ở những chỗ khác, hễ thấy tập trung đông thanh niên là thể nào cũng bị theo dõi và cuối cùng bị bắt hết. Thành ra nên tránh trước đi thì tốt hơn!
Hậu vẫn không hài lòng:
– Lúc nào chúng em cũng cảnh giác. Lại có cả cái Nhung, con cụ lý theo học. Lúc đầu chúng em còn sợ nó làm tai mắt cho bố nó. Nhưng sau này, nó thay đồi hẳn, đứng về phía chúng em. Thế thì tại sao phải đóng cửa? Cụ lý đâu có lý do gì mà bắt chúng em được!
Tân kiên nhẩn phân bua:
– Chính vì có con gái lão lý trưởng mà anh mới đề nghị cô đóng cửa. Người xưa có câu là “sơ bất gián thân”. Cái Nhung nó có thân với các cô đến đâu thì cũng chẳng bằng tình cha con. Ngộ nhỡ bố nó xui nó giấu một nắm truyền đơn trong lớp, rồi cho người đến bắt hai cô thì làm thế nào! Thôi thì đóng cửa, quay về nghề làm ruộng cho người ta khỏi chú ý đã. Rồi từ từ mình lại tính!
Hai chị em đành miễng cưỡng gật đầu, mặc dầu trong lòng tiếc hùi hụi.
Lớp cắt may giải tán được ít lâu thì Tân đưa người của tổng bộ về làm lễ kết nạp Hậu và Duyên. Buổi lễ đơn giản ở đầu nhà. Hai chị em lần lượt giơ tay đọc lời thề và từ đó chính thức trở thành người của đoàn thể. Hai tiếng Cộng sản được nhắc đi nhắc lại nhiều lần với cái lý tưởng cao đẹp là đánh Tây và san bằng bất công xã hội. Tuy nhiên, hai tiếng ấy đối với chính quyền cũng như quần chúng thời bấy giờ, vẫn còn là cái gì kỳ bí, ghê rợn mà Hậu và Duyên không được quyền nhắc đến công khai. Giờ này họ chỉ là đoàn viên của Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội mà thôi. Với Hậu và Duyên lúc này, cứ đuổi được Tây là mãn nguyện rồi. Hậu được chỉ thị làm bí thư chi bộ Hải Ninh, chi bộ chỉ có hai người là Hậu và Duyên. Hậu hứa với tổng bộ là sẽ phát triển đảng viên trong số những học viên mà Hậu tin rằng đã đứng hẳn về phía Hậu.
Một buổi chiều, lý trưởng khệnh khạng chống gậy đến nhà Hậu. Lúc ấy, hai chị em đang gánh nước dưới ao lên, tưới những luống rau mới trồng. Nhìn thấy lý trưởng, lại có cả trương tuần đi theo, Hậu và Duyên cùng tái mặt vì đoán chắc có đứa nào đã tố giác hai chị em chính thức tuyên thệ vào hội kín. Điều này vô lý quá bởi chỉ có bốn người biết là Tân, Hậu, Duyên và đồng chí đại diện Tổng bộ. Hậu nói nhỏ với em:
– Dù lão hạch hỏi đến đâu cũng dứt khóat không nhận!
Duyên khẻ gật đầu. Lý trưởng đi thẳng lại vườn rau. Hai chị em vội buông thùng nước, làm ra vẽ bình thản, cất tiếng lớn:
– Chào cụ lý ạ! Cụ đến tìm bố mẹ cháu có viện gì không ạ?
Lý trưởng hách dịch đáp:
– Tao không tìm bố mẹ chúng mày! Tao tìm chúng mày chứ gặp ông bà giáo làm gì? Tao hỏi chúng mày: Lớp may vá đang đông học trò sao lại nghỉ? Chúng mày định giở trò gì nữa đây?
Hậu thở phào nhẹ nhõm. Câu hỏi của lý trưởng chứng tỏ ông chưa biết gì về việc hai chị em gia nhập hội. Hậu thoải mái đáp:
– Bẩm cụ lý, chúng cháu có giở trò gì đâu? Chẳng qua vì bố cháu thấy người ra vào ồn quá, nên bảo cháu giải tán! Với lại mẹ cháu tiếc mấy sào ruộng bỏ hoang, chả có người làm, nên bắt chúng cháu nghỉ!
Lý trưởng gật gù:
– Nghĩa là chúng mày quay về làm ruộng?
Duyên chen vào:
– Vâng. Chúng cháu không làm ruộng thì biết làm gì mà sống?
Lý trưởng hài lòng nói:
– Được! Nhưng nghe tao bảo đây này: Bận sau, hễ muốn mở lớp học, bất cứ là lớp học gì, cũng phải xin phép tao trước. Tao thuận thì mới được làm. Phép nước bây giờ nghiêm ngặt lắm, không phải chuyện đùa! Bất tuân là tao gông cổ hết. Nghe chửa?
Hai chị em chưa kịp đáp thì trên hè có tiếng nói của ông Lương:
– Ông lý sang bao giờ thế? Mời ông lên nhà uống cốc nước đã!
Lý trưởng quay lại đáp:
– Ông giáo! Tôi vừa sang, nhưng vội lắm phải đi ngay. Tôi chỉ hỏi hai cháu mấy câu!
Rồi ông vừa bước lại thềm vừa than:
– Ngày nào cũng công văn trên tỉnh trên huyện gửi xuống, nhắc nhở về hội kín. Thời buổi bây giờ giặc giã trà trộn khắp nơi, ông giáo nên bảo ban các cháu, đừng để kẻ lạ dụ dỗ, có ngày khổ vào thân! … Thôi, tôi về đây!
Dứt lời, lý trưởng ngoắc tay gọi trương tuần rồi cùng bước ra cổng!
Hai chị em nhìn theo cái dáng oai vệ của lý trưởng khuất dần ngòai ngõ. Hậu thở phào nhẹ nhõm, nhìn Duyên cười rồi tiếp tục tưới nốt mấy luống rau còn lại.
Hai tháng sau, tổng bộ yêu cầu mở một quán nước ở đầu làng để làm chỗ liên lạc. Hậu xin phép mẹ, nhưng bà Lương nhất định không cho, vì với bà, con gái đang tuổi lớn, ngồi bán quán chỉ để người ta chọc ghẹo chứ chả có lợi ích gì. Bà bảo:
– Già như tao, bất đắc dĩ chẳng biết làm gì thì mới mở quán nước! Chúng mày mười chín hai mươi tuổi đầu, thiếu gì việc mà phải ngồi phơi mặt bên lề đường? Giỏi lắm ngày bán vài bát nước, chả bõ!
Hai cô đành vâng lời mẹ, bỏ ý định mở quán nước. Cuộc sống lại bình thường như cũ. Tân trở về Hà nội. Hậu và Duyên quay lại với đồng ruộng nhưng lúc nào cũng tìm dịp vận động quần chúng, đặc biệt là trong giới phụ nữ nông thôn.
Dòng đời cứ lặng lẽ trôi. Mọi chuyện vẫn diễn ra êm ả trong làng Hải Ninh thì bỗng một hôm ông giáo Lương được thư của nhà trường gửi về, cho biết Tân đã bỏ học cả tháng trời. Tin ấy như một gáo nước lạnh hắt vào mặt ông bà Lương. Chỉ có Hậu và Duyên đóan chắc Tân đã được doàn thể giao công tác đi xa. Còn ông bà Lương thì thấy cả một lớp mây đen trùm xuống gia đình. Ông Lương thay đổi hẳn tính nết, suốt ngày bẳn gắt bực bội. Tân đang là niềm hãnh diện của cả nhà, bỗng dưng biến mất khỏi trường học. Bà Lương khóc hết nước mắt, bỏ ăn bỏ ngủ cả mấy ngày, rồi cùng Duyên xuống tận Hà nội dò la tin tức. Dĩ nhiên chẳng ai biết Tân đi đâu. Hỏi thăm cả sở Cẩm cùng các nhà giam, đều không thấy tên Tân. Trần Khải ở trường, biết mẹ con Duyên lên tìm Tân. Nhưng anh cũng lánh mặt, không muốn bà hỏi lôi thôi. Ngày ngày ở nên mẹ, Duyên đau đớn xé gan vì tiếng khóc thảm sầu và những lời than trách của mẹ. Cô chỉ biết lựa lời an ủi chứ không thể nào cho mẹ biết tin tức về Tân. Hai mẹ con thất thểu trở về làng. Bà Lương đi lễ chùa khấn vái, nhờ bao nhiêu thầy bói dò tìm xem Tân còn sống hay đã chết, nhưng đều vô ích. Cả nhà lúc nào cũng bao phủ cả một màu tang ngất trời.
Đã thế, lý trưởng lại khệnh khạng vát batoong đến tận nhà hạch hỏi vì nhà trường tình nhi Tân theo hội kín, báo cho sở Cẩm và sở Cẩm thông tri về địa phương, bắt lý trưởng phải điều tra.
Hôm ấy, cơm chiều vừa dọn ra hè thì lý trưởng nghênh ngang bước vào cổng và lên tiếng ngay từ dưới sân:
– Ông giáo có nhà không?
Năm cái đầu cùng giật mình trông ra. Ông Lương, bà Lương cùng buông đũa đứng dậy. Hậu thì bưng ngay mâm thức ăn xuống bếp, Duyên bưng nồi cơm chạy theo. Dẹp bữa ăn là vì cả nhà biết sẽ phải tiếp khách lâu và hơn thế nữa, vì bửa ăn quá thanh đạm, chỉ có dĩa rau lang luộc chấm tương, thêm quả cà nén thái mỏng để ăn chung với nước rau luộc. Chẳng phải riêng gia đình ông Lương, mà hầu hết mọi người đều không ai muốn cho ai thấy mình ăn uống quá đơn giản!
Ông Lương bước xuống thềm đón khách:
– Ông lý vào chơi sơi nước! Có việc gì mà ông lý phải lặn lội đến vào giờ này?
Đối với ông Lương, lý trưởng có phần nể nang, chứ gặp người khác mở mồm ra là ông quát mắng ngay, dù thật sự nhiều khi chẳng cần phải lớn tiếng. Dường như có một thói quen của chế độ phong kiến là hễ đã đóng vai quan quyền thì bắt buộc phải hống hách! Cho nên dân làng ít khi được nghe ông lý nói chuyện bằng giọng bình thường.
Lý trưởng theo ông Lương vào nhà, dựng cây gậy sát vách, tự động kéo ghế ngồi và nói:
– Cậu Tân đang học, bỏ đi đâu, ông giáo biết không?
Ông Lương biết mình không thể giấu được chuyện Tân bỏ học, nên đành khai thật:
– Tôi với bà nhà cũng đang nẫu ruột vì nó cả tháng nay! Nào có biết nó đi đâu! Nhà tôi lên tận Hà nội tìm thì nghe bảo là nó đi hát cô đầu rồi mê mẩn, bỏ học luôn!
Lý trưởng nhìn ông Lương ngờ vực rồi hỏi tiếp:
– Thế từ hôm bỏ học đến bây giờ, cậu ấy có về lần nào không?
Ông Lương lắc đầu chán nản:
– Có thấy tâm hơi gì đâu, ông lý?
Lý trưởng kết luận:
– Ông giao với tôi là chỗ quen biết, cho nên tôi chả muốn nói nhiều. Nhưng phép nước thì tôi phải làm! Ông giáo nên bảo cậu ấy, tuổi trẻ nhiều khi nông nổi. Ăn học thành tài mà ra giúp nhà giúp nước, chứ nghe theo người ta dụ dỗ mà đi làm giặc thì rồi có lúc hối không kịp
Dứt lời, ông lý đứng ngay dậy, không để ông Lương kịp phân trần:
– Thôi, tôi về đây! Ông giáo nhớ những lời tôi dặn. Đừng để về sau khó nhìn mặt nhau!
Nữa năm sau, bà Lương hoàn toàn tuyệt vọng, ông Lương như người á khẩu, ít mở miệng nói năng, suốt ngày chỉ đăm chiêu ngồi trong nhà nhìn mong lung ra sân, mặt mũi phờ phạc, ruồi đậu mép cũng không thèm đuổi. Cũng giống như đa số các bậc cha mẹ trên cả nước, ông Lương luôn luôn quí con trai hơn con gái, bởi con trai nối dòng, con gái sẽ về nhà khác. Huống chi ông chỉ có hai người con trai mà Tân thì thông minh tuấn tú, vượt hẳn thằng út Hoàn suốt ngày nghịch ngợm. ở Hải Ninh, con trai cùng cở với tuổi Hoàn, lắm đứa đã có vợ. Riêng Hoàn thì vẫn chỉ say mê thả diều, trèo cây bắt tổ chim hay xuống ao câu cá. Ông Lương thấy rõ chỉ có Tân là nối được nghiệp nhà, làm rạng rỡ dòng họ Vũ của ông ở Hải Ninh. ấy thế mà tự dưng niềm hy vọng ấy lại biến mất. Ông như tê liệt cả nửa người vì không biết ăn biết nói thế nào với xóm làng! Có lúc buồn quá, ông đã phải thốt ra với vợ:
– Thà nó chết quách đi, tôi với bà còn biết là nó chết! Đằng này nó đi như thế thì cũng như đã chết, mà mình lại không biết nó chết ở đâu!
Nghe những lời cay đắng ấy, bà Lương chỉ biết cúi đầu gạt lệ.
Một buổi chiều nhá nhem tối, cả nhà vừa ăm cơm xong. Hậu và Duyên đã dọn mâm xuống bếp. Ông bà Lương còn ngồi lại trên hè uống nước xỉa răng. Thằng Hoàn vào buồng lấy guốc xuống ao rửa chân trước khi lên giường. Trăng thượng tuần đã xuất hiện thấp thoáng sau ngọn tre, nhưng vì trời còn mờ sáng nên cái lưỡi liềm màu vàng ấy chưa rõ nét. Duyên từ dưới bếp cầm cây đèn dầu lên đặt trước mặt bố mẹ rồi vào nhà bưng cái điếu bát ra cho ông Lương theo thói quen mỗi khi ăn tối xong. Vừa đặt điếu xuống chiếu, cô giật mình ngẩng lên, mở to đôi mắt nhìn ra cổng vì có bóng người vừa bước vào. Lý trưởng lại đến hoạnh họe bố mẹ cô chăng? Chắc không phải, vì lý trưởng có thói quen hễ vào nhà ai là lớn tiếng ngay từ ngoài cổng! Cô từ từ đứng dậy, há mồm chờ đợi. Cả ông Lương và bà Lương cũng vừa trông ra. Bóng người đàn ông thất thểu bước một cách xiêu vẹo. Duyên đăm đăm theo dõi rồi ấp úng kêu lên:
– Mẹ ơi! Bố ơi! … Ai như anh Tân con! … Đúng rồi, mẹ ơi! Anh Tân con về!
Cùng với câu nói ấy, Duyên chạy lao ra và hét lên:
– Anh Tân, mẹ ơi! Chị Hậu ơi! Anh Tân về!
Thằng Hoàn từ dưới ao nghe tiếng Duyên, quăng cả guốc chạy vọt lên la lớn:
– Anh Tân còn sống! Bố ơi! Anh Tân còn sống! Mẹ ơi! Anh Tân chưa chết!
Bà Lương lật đật đứng dậy chạy ra, làm đổ cả bát nước trà, loang trên mặt chiếu. Bà ôm lấy Tân, nước mắt lập tức trào ra. Bà nghẹn ngào kể:
– Con về đấy ư? Con đi đâu mà không nói năng một lời, để cả nhà mỏi mắt tìm con? Bố con vất vả trăm chiều, con mới được như ngày nay! Sao nỡ làm bố mẹ chết đi sống lại khổ sở mấy tháng giời hở con?
Giọng bà bi thảm, tắc nghẹn trong cổ không nói thêm được nữa. Bà dứt lời thì Hậu cũng ra tới, nhìn anh khẻ gật đầu. Mặt Hậu bình thản hơn mọi người, bởi trước sau Hậu vẫn tin là Tân thoát ly theo chỉ thị của tổ chức chứ có chết chóc gì đâu!
Sau cái phút xúc động ban đầu, mọi người mới nhận ra sự đổi thay lớn lao ở Tân. Trước hết, anh mặc bộ Âu phục nhàu nát bằng vải nội hóa. Điều này chưa hề thấy ở Tân. Mọi lần từ Hà nội về, Tân luôn luôn mặc áo dài, quần trắng và đội nón trắng. Ơ nhà thì mặc quần áo ta, cũng màu trắng, giống kiểu pyjama nhưng đơn giản hơn. Đây là lần đầu tiên anh mặc áo sơ-mi, quần tây, và vì vậy lúc nãy Duyên cứ ngờ ngợ mãi, không nhận ra được khi anh bước vào cổng.
Nhưng Duyên không nhận ra được là đúng, bởi Tân gầy rộc đi, má hóp lại, râu mọc lởm chởm, nước da tái mét, hai quầng mắt trũng sâu xuống làm anh già hẳn như người ốm đói lâu ngày. Hậu và Duyên, hai người hai bên dìu anh lên lề, đặt ngồi xuống chiếu. Hai cô tự hỏi, không hiểu Tân làm cách nào mò về được đến nhà, vì toàn thân anh đang run lẩy bẩy. Bà Lương đau xót hỏi:
– Con ốm phải không? Để mẹ bảo các em nấu cháo cho con nhé?
Tân run run đáp:
– Con không đói. Mẹ cho con xin cái chăn. Giời rét quá!
Dứt lời, Tân tựa mình vào góc cột, hai hàm răng đánh vào nhau lách cách. Bây giờ cả nhà mới biết là Tân đang bị sốt rét nặng bởi ngoài trời còn hâm hấp nóng mà chỉ riêng anh thấy lạnh. Bà Lương sợ hãi quay đầu nhìn vào nhà gọi chồng:
– Ông ơi! Ông làm gì trong ấy? Con nó bị sốt rét! Ông ra bắt mạch, cắt thuốc cho con. Nhanh lên ông ơi!
Ông Lương ngồi trong phòng khách, không thèm lên tiếng. Ông đã bỏ vào nhà ngay từ lúc vừa nhìn thấy Tân. Ông giận ứ lên cổ, định ngồi thở một chút rồi trói Tân vào cột nhà, lấy roi tự tay ông đánh cho hả giận! Nhà này phải có gia phong, không phải theo Tây học rồi muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi!
Ngoài hè, bà Lương và hai cô con gái dìu Tân vào buồng, căn buồng vẫn bỏ trống từ ngày Tân đi. Bà Lương cho Tân nằm xuống, đắp chăn lại. Rồi bà chạy ra gian giữa năn nỉ chồng
– Tôi van ông! Ông giận con thì ông cũng chờ con nó khỏi bệnh đã, rồi ông muốn đánh mắng thế nào tôi cũng chịu! Nó đang lên cơn sốt rét! Ông nỡ ngồi mà nhìn hay sao?
Hậu và Duyên cũng đứng thập thò ở cửa buồng, nhìn ông Lương chờ đợi. Ông vẫn ngồi yên, bàn tay đặt trên bàn run run theo nhịp thở dồn dập. Bà Lương nắm tay ông giật mạnh:
– Đi! Ông lấy thuốc cho con nó uống!
Ông quát lên:
– Cho nó chết đi! Tôi không muốn nhìn thấy mặt nó nữa!
Bà Lương biết chồng nói thế cho hả giận thôi chứ bố nào không thương con. Bà tha thiết nhắc lại:
– Con nó trót dại thì ông dạy dỗ nó! Nhưng nó lên cơn sốt rét. Ông là thầy thuốc, chữa cho bao nhiêu người, chả nhẽ nhìn con ốm mà ông dửng dưng! Ông thương tôi, tôi xin ông một lần này thôi!
Ông Lương thở mạnh, nuốt giận bảo:
– Luộc ngay cho nó hai quả trứng gà đã! Sốt rét ngã nước thì phải ăn trứng gà luộc, đồng thời bắc nồi cháo hoa để ăn dần.
Suốt đêm hôm ấy, bà Lương chạy ra chạy vào, đặt bàn tay lên trán Tân để xem nhiệt độ, mặc dù việc đặt tay như thế chẳng giúp ích gì cho người bệnh. Bà bảo Hậu pha nước nóng cho Tân tắm rồi thay bộ quần áo khác vì bộ đồ của Tân đã bốc mùi chua loét sau bao nhiêu ngày lăn lóc bụi đường. Bà Lương đi ngủ rồi thì đến lượt Hậu và Duyên vào ngồi bên anh. Chờ anh tương đối tỉnh táo sau bát cháo nóng, Hậu hỏi:
– Anh ốm thế này, làm thế nào mà về được đến nhà?
Tân thấy trong người đã khá hơn rất nhiều, nở nụ cười mệt mỏi nói:
– Có người đưa anh về. Đến cổng làng thì họ để anh vào làng một mình vì sợ trương tuần bắt gặp, hỏi han lôi thôi!
Rồi Tân ngồi lên, sốt sắng hỏi hai em về hoạt động của chi bộ Hải Ninh. Rõ ràng Tân không quan tâm đến tình trạng sức khỏe của mình mà chỉ lo lắng cho bước đi của VNTNCMĐCH. Hậu thắc mắc về thời gian vắng mặt vừa qua, anh có vẻ ngần ngừ không muốn tiết lộ. Duyên giục hai ba lần Tân mới đáp:
– Tổng bộ định đưa anh sang Quảng Châu, nhưng mới đến biên giới thì được tin Tưởng giới Thạch đã bắt giữ một số người của mình ở bên ấy. Anh được lệnh nằm lại chờ. Một tháng sau thì lên cơn sốt rét rất nặng, uống thuốc gì cũng chả khỏi. Đến khi thấy anh không thể nào đi được nữa, tổng bộ mới bảo anh về chữa bệnh. Khi nào khỏi thì liên lạc lại để nhận công tác mới.
Những điều này, trên nguyên tắc Tân không được tiết lộ dù là với các đồng chí. Nhưng vì tình cảm ruột thịt anh mới nói ra cho hai em biết tình hình phía bên kia biên giới. Tuy vậy, anh vẫn giấu cái tin Nguyễn ái Quốc bị trục xuất khỏi Quảng Châu và Hồ tùng Mậu cùng hàng loạt đồng chí bị công an Tưởng giới Thạch giam giữ. Trung Hoa vốn là địa bàn hoạt động của các nhà cách mạng Việt Nam, nhưng tình hình chính trị và ngoại giao thay đổi bất thường. Chính phủ Dân quốc đôi khi cần lấy lòng Pháp, đã bán đứng ngay tổ chức đấu tranh Việt Nam trên đất họ.
Giọng kể của Tân bị đứt quãng nhiều lần như người đuối sức sau cuộc chạy đua đường trường. Những cơn sốt cứ ập đến mỗi ngày mấy lần, làm toàn thân anh cứ run lên bần bật. Cả nhà nhìn Tân rớt nước mắt, nhưng anh vẫn cười. Ông Lương nguôi giận, hốt thuốc cho con. Tiếc rằng thuốc ông chả công hiệu, Hậu đi tìm mua kí-ninh cho anh, cũng chẳng chửa dứt được cơn bệnh sốt rét. Nước Sơn-la, ma Vạn-bú! Nữa năm chui rút trên rừng, thuốc men đã không, mà dinh dưỡng cũng thiếu, Tân như người kiệt sức, không chống chọi n?i với tử thần. H?u và Duyên, ngoài tình anh em còn có tình đồng chí, mỗi ngày đi làm về đều vào ngồi bên giường nhìn anh đau xót. Tân mà mất đi thì Hậu và Duyên sẽ như những người đi trên mặt đường bằng phẳng, bổng bị hụt chân thụt xuống hố sâu, bởi đường hoạt động cách mạng của hai cô còn quá non, rất cần có Tân hướng dẫn. Lắm khi sau cơn sốt rét, Tân trở lại tỉnh táo như chẳng có bệnh gì cả, nếu khuôn mặt và toàn thân anh không quá sa sút. Một hôm Tân bùi ngùi bảo hai em:
– Trong các truyện Tàu bố thường kể cho anh em mình nghe, thì bố thích nhất là truyện Tam quốc chí, anh cũng thích nhất là Tam Quốc. Chu Du là đại tướng của Tôn Quyền, trước khi chết có để lại lá thư, trong đó Chu Du chỉ giận mình là chưa làm được việc gì đã vội nằm xuống. Thật ra thì Chu Du đâu có chết trẻ! Lúc Chu Du chết đã 36 tuổi rồi. Anh mới là người đáng giận cho số phận của mình, năm nay anh mới hai mươi hai. Anh chưa giết được thằng Tây nào mà đã biết mình sắp chết …
Tân vẫn nở nụ cười héo hắt dù lệ trào trong khóe mắt. Hậu nắm chặt bàn tay anh, mím môi để khỏi òa lên khóc lớn. Duyên cũng gục vào vai chị rồi ngẫng lên trấn an Tân:
– Anh đừng nói dại! Anh cố uống thuốc, nghỉ ngơi, thế nào cũng khỏi!
Hậu cũng tiếp lời em:
– Anh đừng làm chúng em sợ! Anh phải sống đến ngày đuổi được giặc Pháp!
Tân tội nghiệp hai em, không nói nữa. Hậu lấy cho anh cốc nước, loại nước đặc chế của ông Lương nấu bằng cái siêu sắc thuốc bắc mà ông bảo là thuốc bổ chống suy nhược. Ông Lương bảo uống thì Tân cứ uống chứ thật ra anh chẳng thấy chút công hiệu nào.
Hai hôm sau, Hậu và Duyên đang cuốc đất ngoài bãi ngô thì thằng Hoàn chạy ra gọi. Chị em tất tả bỏ về. Vừa tới cổng đã nghe tiếng khóc của bà Lương từ trong buồng vọng ra. Hai chị em hốt hoảng đưa mắt nhìn nhau và cùng chạy lao vào. Quả nhiên, bà Lương nhìn ra, nghẹn ngào nói trong tiếng nấc:
– Hậu ơi! Duyên ơi! Anh Tân con chết rồi! Khổ thân tôi chưa!
Hậu quăng cái nón ở cửa. Duyên buông cái thúng trên thềm, bàn tay lấm lem nắm lấy vai chị. Rồi cả hai chạy lại, quì xuống bên giường, nhìn Tân nằm cứng đơ trên giường, phủ tấm chăn mỏng tới ngực. Da mặt xanh xao, hai má hóp xuống và miệng hơi há ra, trông Tân như một người lớn tuổi, chẳng còn dấu vết gì của một thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi. Hậu gục xuống ngực Tân, nức nở khóc lớn:
– Anh ơi! Sao anh nỡ bỏ chúng em đi sớm thế! Ôi giời cao đất dày ơi, sao nỡ cướp mất anh tôi!
Duyên cũng lăn ra nền đất, nghẹn ngào khóc theo, trong khi cậu út Hoàn ngồi cúi đầu ở chân giường. Chỉ có ông Lương không vào buồng. Ông ngồi lặng thinh như pho tượng ngoài phòng khách, mắt ông mở trừng trừng nhìn ra sân. Thương con xé ruột, nhưng ông vẫn giận con đang học hành thì bỏ lên rừng để chuốc lấy căn bệnh hiểm nghèo. Giận con, rồi ông lại giận cả chính ông là thầy lang mà không chữa nổi cho con thì thiên hạ còn trông mong gì ở ông nữa!
Hàng xóm nghe tiếng khóc, lác đác vài người hiếu kỳ chạy qua thăm hỏi. Bấy giờ ông Lương mới miễn cưỡng đứng lên để đón khách. Bà Quán bên kia bờ ao là người chạy qua trước tiên. Con trai đầu lòng của bà tên là Kiết, cùng lứa tuổi với Tân, thuở nhỏ vẫn đi chơi chung rất gắn bó. Mãi đến gần đây, khi Tân lên tỉnh học, hàng rào giai cấp mới làm cho con bà dần dần xa cách người bạn láng giềng cũ. Xa cách vì nhà Kiết nghèo hơn nhà Tân đã đành, mà nhất là vì Kiết thất học trong khi Tân đã theo đến bậc cao đẳng, đường danh vọng tương lai chưa biết sẽ leo tới cỡ nào!
Bây giờ nhìn Tân nằm chết trên giường, bà Quán cảm động nhớ lại bao nhiêu lần Tân đã từng sang ngồi đánh đáo với con bà, chia nhau từng củ khoai, mẫu sắn. Khóc cười vốn là bệnh hay lây, cho nên bà ngồi thụp xuống bên bà Lương rồi nước mắt lập tức trào ra và bà nghẹn ngào nói:
– Khổ thân! Cậu Tân hiền lành thông thái thế mà giời chả thương!
Thấy có người vào thăm, bà Lương và chị em Hậu lại càng khóc lớn hơn. Bà Quán nói vài lời phân ưu cho đúng thủ tục rồi quay ra phòng khách, lặp lại cũng câu đó với ông Lương trước khi tất tả trở về để thông báo cho hàng xóm biết bản tin nhà ông Lương có tang, theo thói quen truyền miệng rất nhanh ở thôn quê. Ngày mai, lũ con bà sẽ tự nguyện chạy sang phụ giúp, chẳng hạn xúm nhau đào huyệt giùm cho tang gia. Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau, huống chi nghĩa tử là nghĩa tận, gia đình nào cũng tự cảm thấy có trách nhiệm với người chung quanh khi họ cần đến.
Bà Quán về rồi, ông Lương lại lui vào ngồi xuống chỗ cũ, im lặng uống trà. Khá lâu ông mới gọi thằng Hoàn, bảo nó đi mời ông lý trưởng tới chứng nghiệm làm giấy khai tử. Rồi ông nhẩm tính theo âm lịch, lựa một ngày thích hợp nhất để an táng đứa con trai đầu lòng. Người mình luôn luôn có những điều tin tưởng rất kỳ dị: đã chết rồi, tức là xui tận mạng, thế mà khi chôn vẫn phải chọn “ngày lành tháng tốt” chả hiểu để làm gì!
Cái chết của Tân tuy có làm cho chị em Hậu đau xót nhưng không vì thế mà nhụt chí, nhất là Hậu đang làm bí thư chi bộ.
Chôn cất Tân được một tuần thì Trần Khải từ Hà nội về, lấy cớ viếng mộ người bạn thân, nhưng kỳ thực để gặp riêng Hậu. Ông bà Lương nhìn thấy Trần Khải, lại òa lên khóc lớn vì thương con. Bà Lương sụt sùi nói:
– Nom thấy cháu, bác lại đứt ruột vì nhớ thằng Tân nhà bác! Đang học hành, chả biết nghe lời ai dụ dỗ, bỏ lên rừng để đến nông nỗi này! … Ôi! Con ơi là con!
Trần Khải mừng vì thấy rõ ràng ông bà Lương không hề biết chính Trần Khải này đã đưa Tân vào hội kín. Anh nói vài lời phân ưu rồi bỏ đi ngay vì sợ tang quyến hỏi han lôi thôi. Anh về đây chỉ để bảo Hậu từ nay đừng liên lạc trực tiếp với tổng bộ nữa vì đang bị mật thám theo dõi. Mọi sinh hoạt của chi bộ Hải Ninh đều do Hậu tự quyết định. Hậu sẽ nhận chỉ thị từ tỉnh bộ mà người trung gian là ông Quảng có hiệu bán thuốc lào ở thị xã. Khi chia tay, bên ngôi mộ mới đắp của Tân, Trần Khải bùi ngùi bảo:
– Anh Tân không may mất sớm. Tổ chức mất một đoàn viên tích cực, tôi mất một người bạn chí cốt. Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội đang mở rộng hoạt động trên đà thắng lợi. Nhưng tất nhiên, càng mở rộng thì càng dễ bị theo dõi. Từ nay, tôi không về đây được nữa, mà cô cũng không liên lạc với tôi. Từ hôm anh Tân bỏ học, tôi bị nhà trường gọi lên chất vấn mấy lần! Nhà trường đã ghi tên tôi trong sổ đen!
Hậu chưa kịp nói gì thì Trần Khải nhìn Hậu, run run nói tiếp:
– Chả biết bao giờ tôi mới gặp lại cô! Nhưng dù ở đâu, tôi cũng … không quên cô. Chúc cô công tác tốt!
Hậu cảm động đáp:
– Em cảm ơn anh. Anh cứ tin tưởng ở em! Anh Tân em, trước khi mất, cũng đã bảo em: Đã chọn con đường cách mệnh thì phải theo cho đến cùng, đừng để nữa đường gãy gánh như anh ấy!
Nói câu cuối cùng, Hậu rươm rướm nước mắt. Trần Khải vội lảng sang đề tài khác để động viên Hậu:
– Đành rằng ai cũng tiếc thương anh Tân, nhưng cách tiếc thương hay nhất là cô và cô em phải nối tiếp công việc dở dang của anh ấy. Từ nay đến cuối tháng, cô cố tìm cách lên thị xã gặp anh Quảng, hiệu thuốc lào Vĩnh bảo, nằm ngay ở phố chính. Đấy là cơ quan của tỉnh bộ.
Hậu lau nước mắt quả quyết:
– Vâng. Không phải chờ đến cuối tháng. Sáng mai hay chậm lắm là sáng ngày kia, em sẽ lên.
Trần Khải hài lòng nhắc lại:
– Cô nhớ là hiệu thuốc lào Vĩnh Bảo, anh Quảng sẽ đón cô ở đấy!
Hậu nhỏ nhẹ đáp:
– Em nhớ rồi! Anh cứ an lòng!
Chiếc nón cối màu trắng đục đang cầm trong tay, Trần Khải đội lên đầu. Khu nghĩa trang buổi chiều quạnh hiu trong không gian vắng lặng. Xa lắm mới thấy một người dắt trâu vào làng trên con đường độc đạo chia đôi cánh đồng làng. Trần Khải ngó quanh rồi bất chợt nắm lấy bàn tay của Hậu và nhắc lại lời dặn dò cũ:
– Thôi, tôi đi cô nhé! Chả biết có gặp lại nữa hay không! Chỉ xin cô vững lòng bền chí. Đường cách mệnh gian khổ lắm, nhưng tôi tuyệt đối tin tưởng ở cô và chi bộ xã Hải Ninh!
Dứt lời, Khải buông tay Hậu và quay đi, lầm lũi tiến lên dốc đê, không hề nhìn lại lần nữa. Hậu đứng trông theo cho đến khi bóng anh mờ dần trong sương chiều.Trện đường về nhà Hậu cứ miên man nhớ lại cái thái độ và cử chỉ của Trần Khải lúc đứng bên ngôi mộ và cảm phục sự dứt khoát của Trần Khải. Cái lúc Trần Khải nắm tay Hậu, cô cứ ngỡ thế nào Trần Khải cũng nói vài lời tình tự hoặc hứa hẹn. Hóa ra không! Anh chỉ quan tâm đến công tác của đoàn thể. Còn chuyện cảm xúc cá nhân thì có lẽ đã chết hẳn từ lâu trong lòng Trần Khải. Hậu tự nhủ với lòng mình là sẽ noi theo tấm gương vằng vặc của Trần Khải, gạt hết mọi vướng bận riêng tư để hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng đất nước!
Share.

About Author

Leave A Reply